Giới Thiệu. Bệnh viện mắt Phương Nam tập trung đội ngũ bác sĩ và chuyên gia dày dạn kinh nghiệm với chuyên môn cao. Sự kết hợp kinh nghiệm chuyên sâu, sự tận tâm với bệnh nhân và trình độ đạt chuẩn quốc tế chính là những thế mạnh nổi bật, giúp các bác sĩ và Bạn đang xem: Tuyển sinh 2022: 9 trường thuộc Đại học Đà Nẵng tuyển 14.550 chỉ tiêu tại thpttranhungdao.edu.vn (Trường THPT Trần Hưng Đạo) - Trong kỳ tuyển sinh 2022, 9 trường đại học trực thuộc Đại học Đà Nẵng dự kiến tuyển 14.550 thí sinh. Đại học Bách khoa đại học Kinh tế Đại Đọc tiếp Phẫu thuật nội soi tạo hình dạ dày ống đứng điều trị béo phì là cách điều trị đa mô thức. Phương pháp này không phải chỉ có phẫu thuật mà kèm theo đó là các bài tập vật lý trị liệu cũng như sự theo dõi, hướng dẫn lâu dài của chuyên gia dinh dưỡng. Bệnh viện QUỐC TẾ Phương Châu SÓC TRĂNG; 07:00 - 11h30 & 13h - 16h30; 1900 54 54 66 (phím 3) Kiến thức chăm sóc mẹ và bé Câu trần thuật là dạng câu được dùng dưới hình thức kể, nhận xét, miêu tả, nhận định hay thông báo… về một sự vật hiện tượng, tính chất, hoạt động… của một việc nào đó.Trong giao tiếp thì câu trần thuật được sử dụng như một lời kể thông thường, kết sqZR. 49truyện khá dài do sự xuất hiện của nhiều đoạn miêu tả cảnh vật, diễn biến tâm trạng,khắc họa cụ thể về chân dung, nhắc lại những hồi ức xen lẫn vào khi trần tái hiện câu chuyện, Mạc Can đã thể hiện một lối kể chuyện khá độc đáokhông như lối kể truyền thống. Cốt truyện không theo trật tự biên niên mà phá vỡtính tuyến tính và tính thống nhất về thời gian của cốt truyện truyền thống. Cốttruyện của tiểu thuyết xoay quanh hai tuyến sự kiện và dòng hồi ức. Tuyến sự kiệnmở ra một câu chuyện thế sự về cuộc đời của những con người trôi dạt phiêu linh vềcơm áo ở Nam Bộ một thời. Chen vào đó là mảng hồi ức tâm tình đầy xúc cảm bấtchợt từ phía người kể, một kẻ sớm già trước tuổi khi chứng kiến quá nhiều nỗi đauthương của gia đình, của người thân trên con đường mưu sinh. Hai tuyến cốt truyệnnày hòa quyện, đan xen hầu như không theo một trật tự nào. Sự kiện, biến cố đãkhơi gợi những hồi ức suy tư miên man không dứt và trong dòng hồi ức suy tư ấy,sự kiện lại hiện về chắp nối quá khứ với hiện tại và góp phần dẫn dắt câu chuyện cứ thế dần được mở ra. Thủ pháp đồng hiện do đó đã được tác giả sửdụng có hiệu quả. Giữa những sự kiện được kể, hồi ức về quá khứ cứ ùa về chenngang dòng tự sự. Vì thế giữa các đoạn không có tính liên tục, liền kề, kết dính vềmặt trình tự theo tính nhân quả. Tác giả dường như không hề dụng công để sắp xếpcâu chuyện theo trình tự trước sau. Câu chuyện cứ tự nhiên chảy trôi theo dòng hồiức của nhân vật. Toàn bộ sự kiện đã được khúc xạ qua cái nhìn, cách cảm nhận chủquan và đã được chắt lọc qua tâm hồn đa cảm, đầy suy tư của người kể. Qua mànsương tâm tình của người kể, người đọc hiểu được những cảm xúc, suy tư và nhữngtrăn trở của nhân vật về kiếp người. Có lúc dòng chảy nội tâm đã trở thành đốitượng chính cho việc trần thuật và câu chuyện đã được dẫn dắt theo mạch độc thoạinội tâm trữ tình, lắng đọng chất suy tư, các ự kiện cũng được kể lại từ đó. Các sựkiện đã gắn kết với nhau từ những mảnh ghép rải rác suốt câu chuyện, trong đó cósự kiện được nói tới trong những cuộc đối thoại về sau của hai anh em, trong hồitưởng của anh Ba và cả những mảnh hồi ức vụn vặt khi nhớ khi quên của cô đàophóng dao khi về già phải sống như “một đứa trẻ già cỗi suy dinh dưỡng héo hắt,gầy nhom”. Ví như ở đoạn kể về cái đêm biểu diễn cuối cùng trước khi cô em bịnạn do anh mình phân tâm trong khi phóng dao, tác giả hoàn toàn không giải thíchnguyên nhân trước đó điều gì làm cho người anh phân tâm. Điều này chỉ được nói 50đến trong cuộc trò chuyện của hai anh em khi đã về già. Người đọc chỉ hiểu đượcnguyên nhân khi đọc đoạn đối thoại của Bà Tư nói với anh Ba của mình “Anh đâucó biết, tối hôm đó trước khi mở màn, chị Phương cho anh Hai biết tin chị có thai,cha chị nói chị phải về nhà ngay lập tức. Ông muốn gả chị cho người khác một cáchgấp rút, anh Hai mình phân tâm là đúng, nhưng tức cười… sự phân tâm này lại ảnhhưởng nặng nề tới nhiều người khác”[5, Và trong mảng hồi ức của cô đàophóng dao, người đọc mới hiểu được sự việc xảy ra trong đêm diễn kinh hoàng vànỗi đau của người phải dùng tính mạng của mình đánh đổi cho cuộc mưu sinh nhọcnhằn “Em cúi mặt xuống nhìn mảnh ván dưới sân khấu, biết bao lần em vẫn nhìnxuống chân mình để khỏi thấy những lưỡi dao. Lần này em nhìn máu của em nhỏxuống đó, một lưỡi dao chém vào bả vai, ban đầu em không thấy đau… mà ngạcnhiên, bởi vì em đâu có ngờ như vậy. Sau đó trộn lẫn với cái đau và những giọt máumới cảm thấy mình buồn rầu làm sao. Trên thế gian này chắc chỉ có mình em là cóđược nỗi buồn đó anh ơi”[5, phóng dao trong thực tế có lẽ chỉ diễn ra trong vài phút nhưng lại đượctác giả kể lại đến khoảng 15 trang. Nhịp điệu trần thuật như được kéo giãn ra chậmchạp chứ không đi nhanh đến kết thúc do nhiều lần sự việc bị cắt ngang bởi dòngsuy tư miên man không dứt của nhân vật. Và phần kết thúc đoạn truyện đầy kịchtính này không phải kể về màn phóng dao của người anh thành công hay không màlà suy tư của nhân vật “tôi” với câu hỏi muôn thuở “tại sao” đầy trăn trở, day dứt“tại sao tôi không được sống bình thường như những người khác chung quanh tôi,tại sao tôi dốt nát mê muội, tôi có quyền được sống làm người, được học hành, yêuthương và có hạnh phúc chứ”[5, sát Tấm ván phóng dao chúng tôi nhận thấy trong tác phẩm có đếnhơn 160 tác giả sử dụng dấu ba chấm lưng chừng trong câu. Đây là một dụng ýnghệ thuật, Mạc Can tạo ra khi đọc có cảm giác như chùn lại, có những khoảnglặng, khoảng trống mà người đọc cần suy nghĩ và điền vào điều mà tác giả chưa nóihết. Trong những giấc mơ của Anh Ba cũng thế, đang mơ màng, trôi cảm xúc theonhững ước vọng xa xôi, bỗng dưng lại giật mình tỉnh giấc. Anh Ba bàng hoàng, lânglâng không biết khi nào là thật, khi nào là mơ, anh lại đặt ra những câu hỏi “tại sao”,và khi đặt ra không bao giờ anh trả lời được. Phải chăng chính những chiêm 51nghiệm, suy tư của người đọc sẽ thay anh trả lời những câu hỏi trên một cách trọnvẹn hơn. Hay lúc Mẹ anh thường ngồi xem bói với những con bài đen đỏ. Dẫu bàbiết cuộc đời mình chẳng thể nào thay đổi được, nhưng bà vẫn hy vọng, niềm hyvọng mong manh còn sót lại như yếu tố tâm linh nào đó cầu mong cuộc đời bà, giađình có cuộc sống khá hơn. Đọc đến đây, nhịp điệu câu chuyện chậm rãi, dư âm củacảm xúc đọng lại, độc giả lắng lòng lại trước sự nhỏ bé của thân phận người, vậy, thông qua nhịp điệu trần thuật chậm rãi, khoan thai Mạc Can đãtìm được nhịp điệu trần thuật phù hợp để tái hiện sinh động thế giới tâm hồn sâu sắccủa con người. Tiểu thuyết gợi cảm giác dàn trải, kết cấu không theo tuyến tính thờigian, có sự kết hợp linh hoạt giữa kể, miêu tả nội tâm, độc thoại và hồi tưởng. Đằngsau tác phẩm như ẩn vào đấy con người của chính nhà văn, đồng thời gửi gắm baonhiêu tâm tư, cách nhìn nhận, khám phá về cuộc sống của những người nghệ sĩ phảilà kiếp tằm nhả tơ trả nợ cho đời. Chính nhịp điệu này đã góp phần hình thành nênnét trần thuật đặc sắc, ấn tượng trong tiểu thuyết của Nhịp điệu trần thuật nhanh, gấp gápBiến cố và thời gian vận động sẽ ảnh hưởng, chi phối tốc độ, nhịp điệu trầnthuật trong tác phẩm. Với một biến cố lớn xảy ra trong một khoảng thời gian ngắnthì sẽ gây ấn tượng về sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian. Ngược lại, biến cố ítsẽ gây ấn tượng về sự chậm chạp. Yếu tố tạo nên nhịp điệu trần thuật là những hiệntượng, sự kiện, tình tiết được đan cài, xen kẽ bởi các thủ pháp của nhà văn. Ngoàira, theo quan niệm của Genette thì muốn khám phá nhịp điệu trần thuật trong tổngthể chung của tác phẩm tự sự, đầu tiên phải xem xét về các vận động từ trong vănbản. Genette khẳng định rằng “nếu đem số trang dành cho một một vài sự kiệnhoặc một một vài phần của văn bản truyện để chỉ khoảng thời gian thực tế năm,tháng, ngày… tương ứng của câu chuyện được kể thì sẽ thấy được sự biến đổi củanhịp điệu kể chuyện” dẫn lại theo Nguyễn Mạnh Quỳnh.Trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao của Mạc Can, chúng tôi nhận thấy tácgiả kể với nhịp điệu nhanh, nhiều đoạn diễn biến mạch truyện gấp gáp. Mặc dù,trong tác phẩm này, cốt truyện không nhiều sự kiện, song do áp lực của thời gian vàthủ pháp kể của tác giả nên diễn biến tâm lý của nhân vật, của các sự kiện, biến cố 52vận động liên tục đã tạo ra nhịp kể nhanh, gấp gáp. Phải chăng đây là cách nhà vănmuốn hướng câu chuyện hiện thực khách quan đoạn diễn ra màn phóng dao, những sự kiện, chi tiết không được sắpxếp theo trình tự tự nhiên mà xáo trộn, đảo lộn thời gian đan xen giữa quá khứ vàhiện tại. Người đọc phải kết nối các sự kiện trong dòng hồi ức của nhân vật thì mớibiết được sự việc đã xảy ra. Nghệ thuật kể chuyện đã tạo cho người đọc cảm giáccăng thẳng hồi hộp như đang xem một bộ phim có nhiều kịch tính. Những âm thanhsống động, tạp nham của rạp hát làm cho mọi thứ như khẩn trương hơn “Vẳng lại từtrước tấm màn nhung dầy mo, là một cõi nào khác, luôn luôn là tiếng náo động nhưđịa ngục, tiếng nói chuyện ồn ào, tiếng cãi nhau, kích động, chửi thề, tiếng con nítkhóc, tranh giành chen lấn chỗ ngồi. Tiếng rao bán quạt giấy, mía ghim, cốc ổi, lẫntrong không khí nóng nực, nồng nặc mùi hôi, mùi thuốc lá nặng, mùi nước giải vàphân dơi”[5, Khi ấy người anh đã phân tâm lúc đang điều khiển mười hailưỡi dao phóng về phía tấm ván mà ở đó có cô em gái tội nghiệp đang đứng. Mànphóng dao được miêu tả đầy căng thẳng từng bước một, từ lúc anh Ba làm cái việcthường ngày là tưới cho mềm tấm ván rồi vác nó lên sân khấu đến từng hành động,cử chỉ của diễn viên biểu diễn khi lần lượt xuất hiện để bắt đầu cho màn diễn. Vàtrước mỗi lần phóng dao, “người cõi trên” đứng sau tấm ván luôn mang trong ngườitâm trạng bàng hoàng, lo lắng cho đứa em gái “trái tim tôi cứ đau nhói trước giờbiểu diễn, trong bối cảnh mọi người đều hân hoan, hàng ngàn lần không lần nàokhác, đêm nay anh tôi khác thường hơn mọi đêm, tim tôi càng đập mạnh hơn”[5, Khi người đọc căng thẳng chờ đợi sự việc xảy ra thì tác giả lại hướng sựchú ý của người đọc đến những yếu tố bên ngoài Điệp bị đám du côn vây đánh, hìnhảnh Phương ngồi ở hàng ghế khán giả đàng sau là người đàn ông lạ. “Chếch về phíatrái sân khấu có một người làm tôi khó rời mắt, người đàn ông nầy cao tới nỗi bấtbình thường, ông ta nổi bật trong đám đông, trên ngực mang chiếc máy ảnh lớn, cũkỹ, đôi mắt như cá chết đục ngầu, u ám lạ kỳ, ông ta chính là, con cá ngồi sau lưngchị Phương, con cá nầy bơi tới gần sân khấu từ lúc nào tôi không biết. Tôi chưa biếtmặt quỷ sứ, như mẹ tôi thường kể chuyện con người lúc chết, lũ quỷ kéo tới mà kẻnầy là hiện thân. Chung quanh ông ta là một cái gì lạnh tanh mờ tối, hầu như khôngcó ai trông thấy ông ta ngoài tôi, ông ta nháy mắt với tôi, rồi dùng một ngón tay chỉ 53lên môi, bỗng nhiên tôi run lên khi nhìn cặp môi ông ta động đậy tôi nghe vẳng lạitiếng thì thầm khàn đục Con dao, con dao?”[5, Những chi tiết này có thểlàm cho người đọc phân tán sự chú ý theo dõi nhưng lại có tác dụng gia tăng sự hồihộp chờ đợi kết cục câu chuyện khi sự việc đang ở cao trào “Chú Thành lia haichiếc đùi trống, lần nầy ở rìa mảnh da dê, trên mảnh da con vật chết khô tan xác tộinghiệp, căng cực thẳng ba sợi lò xo, động, nhẹ tới nó lập tức nó kêu lên, một giọngthan rè rè. Đây là thế phóng dao nghiêng người, người phóng dao xoay tròn theo vàinhịp nhạc, người đứng trước tấm ván phải khom lưng, cúi đầu cho những lưỡi daocắm chung quanh cằm và gáy. Tai tôi đã quá quen với tiếng trống của chú Thành,cứ mỗi lần lưỡi dao của trò- phóng- chung- quanh- đầu nầy phô diễn, dao cắm vàomảnh ván, chú lại đập dùi lên cái dĩa đồng”[5, Chen vào đó là dòng tâm lýcũng đang diễn ra căng thẳng của chính người kể, người anh Ba đứng sau tấm vánđang hồi hộp lo âu cho số phận của em gái và dự đoán có điều bất thường sắp xảyra. Người đọc như nghẹt thở, thấp thỏm chờ đợi sự việc tiếp theo là như thế nào khi“Tôi- nín- thở- đếm- theo- từng- tiếng- đĩa- đồng- vang một... hai... ba... bốn...năm... sáu... bảy... tám... chín. Trong không khí nóng như lửa địa ngục, tôi nhìn thấycả những người cởi trần, đang hết sức khích động, có người nhảy chồm lên lưng ghếnồng nhiệt vỗ tay, nhiều tiếng chắc lưỡi ghê rợn, đám con nít vẫn cứ chen lấn trênthềm sân khấu cạnh ban nhạc đệm”[5, Đó không phải là những biểu hiệntâm lý đơn giản mà là một phức hợp những sắc thái cảm xúc đan xen hồi hộp, lolắng, đau đớn, phẫn uất như điên cuồng muốn đập phá một cái gì đó để giải tỏa,thậm chí anh đã nắm lấy cán con dao làm cá của người mẹ mà anh luôn giắt sau tấmván. Mọi phẫn uất, tức tưởi, xót xa bấy lâu nay bị dồn nén quá mức, chỉ cần một lựcnhỏ tác động thì mọi kiềm nén bấy lâu đã bật tung. Đến đây tác phẩm như có độcăng hết mức, sức dồn nén đến mức tối đa, không được một trang giấy nhưng lại tạothành chấn động, những mảnh chắp vá của cuộc đời ám ảnh theo suốt cuộc đời củaÔng Ba và Bà chung, ở tác phẩm, nhà văn chú ý xây dựng tình huống giàu kịch tính,sử dụng nhiều đối thoại ngắn để tạo độ căng cho mạch truyện. Với sự lựa chọn này,nhà văn đẩy nhân vật vào những hành động mang tính bước ngoặt nên nhịp điệu 54trần thuật chủ yếu nhanh, gấp gáp, tuy nhiên nhịp điệu này không có nhiều trongtiểu ván phóng dao là lát cắt từ những mảnh ghép vụn vặt cuộc đời gia đìnhgánh xiếc Nghệ Tinh. Chỉ vỏn vẹn không đầy 200 trang, nhưng nó là bản hòa tấuâm hưởng giàu cung bậc. Từ nhẹ nhàng, sâu lắng bởi những khúc ca du dương, âmthanh ngọt ngào dịu êm của khung cảnh xóm nghèo nơi miền quê Lục tỉnh. Đếnnhững âm thanh bổng trầm đôi khi lạc điệu bởi những giấc mơ của Anh Ba, bị đứtchừng khi choàng tỉnh giấc. Tất cả như điệu slow chậm rãi, khoan thai, để lại dư batrong lòng độc giả. Có lúc lại ngân vang, réo rắt thôi thúc chờ đợi sự việc tiếp theo,căng thẳng đến nghẹt thở. Bản giao hưởng ấy phải chăng là “cung đàn lỗi nhịp” màcuộc đời người nghệ sĩ hát rong nếm trải. Để rồi sau bản hòa tấu đầy cung bậc ấy,hòa quyện lại là nỗi niềm, suy tư, trắc ẩn về những mảnh đời, độc giả cảm thônghơn, yêu thương hơn nhân vật và yêu luôn cả cuộc đời nghệ sĩ Mạc Giọng điệuĐọc truyện của Mạc Can ta thấy giọng văn chân thật, giản dị và bản không học nhiều nhưng với sự khao khát với con chữ, khao khát được viếtđược giãi bày, vì vậy văn ông giản dị đến không ta khen văn Mạc Can đơn giản, dễ hiểu, dễ gần, không có những từđánh đố người đọc, không có sự trau chuốt rắc rối như lối hành văn của những vănsỹ trẻ. Đó là thứ văn chương bình dân, thứ văn chương dành cho số đông. Nó đứngsang một bên, không chung hàng, chung lối với những thứ văn chương chỉ được chichút về giọng điệu, về hình thức… Nó thể hiện sự tôn trọng của người viết vớingười đọc. Nó là cuộc trò chuyện với độc giả, thông qua một trung gian, ấy là Giọng điệu dân dã mộc mạcỞ Tấm ván phóng dao, ấn tượng đầu tiên mà độc giả bắt gặp ở văn phongMạc Can là giọng điệu dân dã, mộc mạc trong những trang văn tả cảnh thiên nhiên,trời mây sóng nước, cảnh sinh hoạt của những con người phiêu linh, trôi nổi trênchiếc ghe đoàn xiếc. Đó là những trang viết về những “cơn mưa lúc nửa đêm” vớinhững tiếng “mưa rơi lộp độp trên mái nhà lồng chợ vắng tanh, sân khấu không ánh 55đèn, không khán giả, buồn ai oán, chung quanh mờ mại gió nước, tiếng ếch nhái ồmộp, một lúc vang vang, một lúc lặng thinh. Tiếng mưa rơi hoài, não nuột suốt canhthâu… trong mưa, từ cõi nào vẳng lại tiếng cầu kinh hoang mang, dàn đồng ca củakiếp côn trùng nơi bùn lầy nước đọng, không khác gì cuộc đời những người hátrong!”[5, Câu văn êm ả như ru, những cơn mưa làm xót xa nỗi lòng củacon người “có trái tim quá lớn” như nhân vật tôi. Những đêm mưa làm cõi lòngthêm thấm lạnh, nhân vật càng thấm thía cái niềm đau và nỗi buồn về kiếp hát rongtrôi nổi. Giọng văn dân dã, mộc mạc, đượm buồn, câu văn có chất thơ, để khi đọcđến đâu, chúng ta như lắng lòng lại, cảm thông sâu sắc cho số phận, kiếp người lênhđênh trên sóng điệu dân dã, mộc mạc này giúp Mạc Can trần thuật một cách dễ dàngvới lời văn gần với văn nói, ở đó có sự mộc mạc, dung dị khi nói về cuộc sống vấtvả mưu sinh. Sự thiếu thốn về vật chất, sự khắc nghiệt của lòng người, của thiênnhiên được trải điệu dân dã, mộc mạc xuất phát từ chính con người nhà văn, cũng nhưcảm quan của chính tác giả về nhân vật của mình. Giọng điệu ấy được thể hiện bằngngôn ngữ nhân vật luôn mang đậm chất Nam Bộ, giàu tính khẩu ngữ “Lẹ tay thìcòn, chậm tay… cũng còn”; “Trời ơi ai mà ác nhơn sát đức vậy không biết”; “Chamẹ sanh con, trời đất sanh tánh”, hay “Tụi nó móc túi người ta chớ nó móc túi ôngđâu mà ông lo chuyện ba láp, nó thù vặt chém lén là mệt nha, nó tiểu nhơn đánh lénsau lưng mình phải sợ chớ”, “ổng đen thui nên đặt ổng tên là ông lô xí sộ”, “Dạ tuité xuống giếng, may mà má tui hay kịp vớt lên, không thì tui chết rồi, rối cái tuibịnh ban cua tóc rụng hết ráo, còn nữa, hồi hai tuổi tui nghe má tui nói lại, tui téxuống sông, chìm lỉm, vớt lên chết luôn mấy ngày… tự nhiên bây giờ tánh tui hơitưng tưng”.Bên cạnh đó nhà văn thể hiện ngôn ngữ đối thoại qua từ ngữ chân chất, mộcmạc gần gũi với ngôn ngữ đời thường “bà Trần lấy làm lạ hỏi chú Bê, bởi chú haynói chuyện với con bà- Chú Bê thằng Ba bị cái gì vậy?Chú Bê cười ruồi 56- Nó bị người khuất mày khuất mặt bắt, tại đêm nào nó cũng đứng sau gòmả!Bà Trần lại hỏi- Trời… trời, nó đứng ở ngoải làm cái gì vậy hỡi trời?” [5, ván phóng dao là lời thủ thỉ tâm tình của tác giả về một số kiếp cơ cựcnghèo hèn. Truyện của ông không ồn ào, gay gắt những mâu thuẫn xung đột, khônglà sự phản kháng mạnh mẽ, không có những tính cách nổi bật mà hấp dẫn bởi tấmlòng yêu thương của tác giả, bởi cách viết khá riêng và độc đáo. Sinh ra và lớn lêntrong cảnh đói khổ, Mạc Can hơn ai hết thấm thía sâu sắc về cuộc sống của nhữngsố phận nghèo khổ, bất hạnh. Giờ đây, qua tác phẩm của Mạc Can chúng tôi dễnhận thấy cuộc sống của những người dân thôn quê, nổi trôi lênh đênh trên sóngnước một cuộc sống lang thang phiêu bạt. Có thể nói, giọng điệu dân dã mộc mạclàm nên chất riêng cho Mạc Can, là “đặc sản” của nhà văn Nam Giọng tâm tình, thủ thỉ, giàu chất thơMỗi tác phẩm, mỗi tác giả có một giọng điệu khác nhau, nhưng nó luônthống nhất trong một khuôn giọng điệu cơ bản và chủ đạo nào đó. Giọng thủ thỉ tâmtình với tư cách là một thủ pháp đã xuất hiện từ trước, và trong các thời kỳ văn học,giọng điệu này luôn được sử dụng và mang sắc thái riêng. Điều đó cho thấy giọngthủ thỉ tâm tình không phải là sản phẩm mới, đặc sản riêng của Mạc Can. Ở đâyMạc Can đã vận dụng những gì sẵn có để biến tấu theo những dụng ý riêng củamình. Giọng điệu thủ thỉ tâm tình hiện diện trong tác phẩm nhưng rất khó nắm thẩm thấu vào tất cả những yếu tố trong tác phẩm. Nó có thể được tạo ra từnhững khoảng trống, từ những điều không được nói tới trong tác phẩm. Vì thực chấtgiọng điệu thủ thỉ tâm tình chỉ có thể lĩnh hội, cảm nhận thông qua chính quá trìnhđọc, cảm nhận từng câu từng chữ, qua lối diễn đạt, ngôn ngữ của những hình ảnh,sự cộng hưởng giao thoa thẩm thấu, xuyên thấm vào nhau của tất cả những yếu tốtrong tác chiếu vào Tấm ván phóng dao, Mạc Can đã thể hiện loại giọng điệu đặcbiệt này. Đây là hệ quả của cách nhìn người, nhìn đời đầy tính nhân văn của Can không thích “nống lên thống thiết” Lại Nguyên Ân mà thích phô bày cái 57nôm na, thật thà đáng yêu, cái thủ thỉ, tâm tình. Chất giọng ấy phù hợp với việcmiêu tả đời sống của người dân nông thôn nghèo, những con người có cuộc sốnggiản dị. Giọng văn Mạc Can trầm, sáng, gần với giọng truyện cổ tích, nhịp vănchậm gọn, như thủ thỉ tâm tình kể cho ta nghe về câu chuyện của cuộc đời. Giọngtâm tình trong Tấm ván phóng dao đậm đặc và thể hiện trên nhiều phương diện. Cảcâu chuyện đều mang giọng điệu đó, bắt đầu bằng cách gọi tên các nhân vật cậuBa, cô Tư, Anh Hai, chú Bê, chú Tài say đầy thân mật, đến các nhân vật trong tácphẩm đều có lai lịch, có nguồn gốc xuất thân, có ngoại hình rõ ràng để từ đó ông thểhiện cái nhìn về cuộc đời số phận của họ. Đây là câu chuyện buồn của một kiếpngười, câu chuyện đã tạo được lực hấp dẫn, lôi độc giả đi theo không ngừng từ đầuđến cuối là do những tình tiết và tâm lý nhân vật đã mật thiết lồng vào nhau trongmột bố cục, một hình thức văn phong phong phú, một giọng điệu tâm tình thu khi chúng ta cứ ngỡ như đang nghe tác giả kể lại cuộc đời mình “Không có gìlàm cho tôi sợ hơn cơn mưa lúc nửa đêm, vì với riêng tôi, nhìn giọt mưa rơi longlanh, nghe tiếng mưa rì rào, tí tách, chẳng khác nào những lời thì thầm bên tai, nhắcnhở lại quá nhiều nỗi buồn, của cuộc đời đã qua”[5, Những cơn mưa như triềnmiên, không dứt vào những tháng ngày mưa bão “Mưa rơi lộp độp trên mái nhàlồng chợ vắng tanh, chợ không người, sân khấu không ánh đèn, không khán giả,buồn ai oán, chung quanh mờ mịt gió nước, tiếng ếch nhái ồm ộp, một lúc vangvang, một lúc lặng thinh”[5, đấy chính là dư vị của “dàn đồng ca của kiếp côntrùng nơi bùn lầy nước đọng”. Theo cảm nhận của riêng “tôi”, những âm thanh nãonùng, ai oán ấy “không khác gì cuộc đời những người hát rong”[5, Âmthanh, không gian của những xóm nghèo vào đêm mưa nghe sao não nùng, thê thiết,dày đặc khắp tác phẩm, tạo nên chất tháng ngày phiêu lưu trên những dòng sông, những bến sông cùngtấm ván phóng dao, có lẽ hơn ai hết nhân vật “tôi” thấm thía nỗi lòng của ngườikiếp sống lênh đênh. Anh Ba càng thấy yêu những dòng sông trôi lững lờ, nhữnggiề lục bình bấp bênh nổi trôi vô định. Dòng sông mà đoàn hát gia đình trôi nổi theonhững ngày tháng mưu sinh, phải chăng đó là dòng đời nghiệt ngã, xô đẩy nhữngcon người sống kiếp long đong, vô định. Sau những tháng ngày lang bạt, phiêubồng trên chiếc ghe, gia đình Anh Ba cập cảng cuộc đời trên mảnh đất hắt hiu nơi 58xóm nghèo, không có một mái nhà, mà phải ở tạm. Xóm nghèo ấy nằm cạnh mộtkhu đất hoang người ta quen gọi với cái tên nghĩa địa. Gia đình ly tán, Anh Ba vàCô Tư sống trong nỗi vật vờ, nửa mê nửa tỉnh của cô em gái không biết mình đangsống hay đã chết. Giọng văn chậm rãi thủ thỉ về nỗi buồn thấm thía của kiếp làmngười “Lúc nào cũng vậy, khi tôi nhắm mắt, ban đầu thường có những đốm sánglập loè, đó là ánh lửa trong chiếc đèn bão, thời thơ ấu của tôi, rồi là chữ chỉ có chữ,tôi khát chữ tới độ điên cuồng, ở kiếp nào đó, ở một thế giới nào đó… tôi là mộtnhà thông thái. Tôi biết quá nhiều điều nhưng rồi tôi đã làm sai một điều gì đó khiếncho tôi bị xoá đi, cả tôi và cả những điều tôi học, giờ đây tôi biến thành kẻ lưu đày utối, trong tiềm thức, tâm linh tôi như sương khói”[5, cách dựng truyện pha trộn giữa thực tại và hồi tưởng khéo léo cùng cáchhành văn nhiều đoạn huyền ảo với giọng điệu thủ thỉ tâm tình đã tạo cho chúng tacái ham muốn không thể nào thoát ra Giọng ngậm ngùi, cảm thươngTrong truyện của Mạc Can, như Tấm ván phóng dao, Công chúa Ôsin, tabắt gặp cái giọng điệu ngậm ngùi, cảm thương. Đó là sự cảm thương đối với cuộcsống la suy ngẫm của nhân vật, hay qua những lời nhận xét trực tiếp,góp phần làm cho nghệ thuật tự sự thêm hấp dẫn, làm cho người đọc truyện dùtrong hoàn cảnh nào cũng không thể dửng Giọng điệu chiêm nghiệm triết lýMạc Can có lối kể phần “khách quan”, “tự nhiên” tránh việc bắt nhân vậtphải gồng mình lên tự phân tích. Ở đây những tình thế đời sống được đưa ra như làđể thể hiện một sự chiêm nghiệm lẽ đời hơn là để phê phán một lối sống nào cho việc lật ra mặt trái của lối sống thông tục theo những thói quen vô thức, ởđây nhà văn càng điềm tĩnh hơn trong khi phát hiện ra những nghịch lý của cuộcđời. Tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm của Mạc Can đó là tư tưởng nhân văn, nhânđạo, lấy tình thương, sự nhân ái để cảm hoá con người. So với các tác giả khácchúng tôi có cảm giác như Mạc Can còn vướng quá nhiều duyên nợ với đời, cho VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC Xà HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC Xà HỘITẠ HƯƠNG TRANGPHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮNTHẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG VĂN HỌCVIỆT NAM TỪ SAU 1986Ngành Văn học Việt NamMã số 9. 22 .01 .21LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌCNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC LÊ QUANG HƯNGHÀ NỘI – 2019LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kếtquả nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin chịu hoàntoàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2019Tác giả luận ánTạ Hương TrangLỜI CẢM ƠNLuận án được hoàn thành, tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc, chânthành đến Lê Quang Hưng, người thầy hướng dẫn khoa học tận tình,luôn sẵn sàng chia sẻ quan điểm, gợi mở nhiều ý tưởng hay, mới lạ, giúp tôicó thêm nhiều tri thức lý luận và phương pháp tư duy, làm việc khoa cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Khoahọc xã hội, phòng Quản lý Đào tạo, các thầy cô trong khoa Văn học đãthường xuyên động viên, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứucủa được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu Trường Đại học HảiPhòng, Khoa Ngữ văn – Địa lí nơi tôi công tác đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặtthời gian để tôi hoàn thành chương trình học và luận ơn bố mẹ, những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, bạnbè,... đã sẻ chia, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thànhluận Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2018Tác giả luận ánTạ Hương TrangMỤC LỤCMỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU......................................... niệm chung về phương thức trần thuật trong truyện ngắn thế sự - đời tư..... hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôi Việt Nam từ sau1986........................................................................................................................... hình nghiên cứu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư từsau 1986..................................................................................................................... 26Chương 2 TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TRONG SỰ VẬN ĐỘNG,PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1986................................ tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn thế sự - đời tư trong văn họcViệt Nam từ sau 1986................................................................................................ quát truyện ngắn thế sự - đời tư trong nền văn xuôi Việt Nam từ sau 198656Chương 3 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT, TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG VÀ KẾTCẤU TRONG TRUYỆN NGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986................... kể và điểm nhìn trần thuật.......................................................................... chức tình huống.............................................................................................. thuật tổ chức kết cấu................................................................................ 101Chương 4 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT CỦA TRUYỆNNGẮN THẾ SỰ - ĐỜI TƯ TỪ SAU 1986............................................................ ngữ trần thuật........................................................................................... điệu trần thuật......................................................................................... 132KẾT LUẬN............................................................................................................ 148DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC Đà CÔNG BỐ CÓ LIÊNQUAN ĐẾN LUẬN ÁN......................................................................................... 151DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 152MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề Trong quan niệm của lí thuyết tự sự học hiện đại thì tiểu thuyết làthể loại tự sự cỡ lớn, có khả năng miêu tả bức tranh hiện thực rộng lớn và sốphận của một hay nhiều người. Trong khi đó, điều làm nên nét khác biệt giữatruyện ngắn với tiểu thuyết hay những thể loại tự sự khác chính là ở chỗ dunglượng ngắn, tập trung miêu tả một sự kiện, một tình huống hoặc một khoảnhkhắc nào đó xảy ra trong cuộc đời của nhân vật. Trong loại hình văn xuôi tựsự, truyện ngắn được đánh giá là một thể loại có tính thích ứng cao với thờiđại nó tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường nhưngày nay, truyện ngắn phù hợp với thị hiếu của độc giả bận rộn khi họ khôngcó nhiều thời gian dành cho việc nhâm nhi chiêm nghiệm một tác ưu điểm kể trên khiến cho truyện ngắn là một trong những thể loại cóthể đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thời đại đổi mới, của độc giả sau chọn mốc 1986 chúng tôi không chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tácphẩm mà hơn hết đó là mốc thời gian quan trọng diễn ra Đại hội VI của đầu từ đây văn nghệ thực sự được giải phóng kéo theo sự khai phóng cácthể loại khác về cả nội dung và hình thức biểu hiện. Mặt khác, đây cũng làmốc thời gian ghi nhận những cách tân đáng chú ý của các thể loại văn học,những tác phẩm truyện ngắn thực sự có giá trị cũng bắt đầu ra đời từ xuôi nói chung, truyện ngắn giai đoạn sau năm 1986 nói riêng thựcsự đã tìm được cho mình một hướng đi mới dù đầy chông gai song lại đạtđược những thành tựu đáng ghi nhận. Về nội dung, nó bắt đầu đi sâu vào thếgiới nội tâm của con người để tìm hiểu và khái quát thành tâm lí điển hình củathời đại. Những mảng như chiều sâu tâm linh, cõi vô thức hay sự cô đơn bảnthể, cô đơn nghệ sĩ... đều được nó nghiêm túc khám phá và sáng tạo. Về hìnhthức, khác với quan niệm truyền thống, truyện ngắn sau 1986 không ngừng nỗlực kiếm tìm những phương thức biểu hiện phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của1văn học. Bên cạnh những cây bút vẫn kiên trì cách viết truyện truyền thốngthì một loạt các cây bút với ý thức tự làm mới mãnh liệt đã ra đời nhưNguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương... Ở một phương diện khác, khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi căn cứvào chủ đề và cảm hứng của văn xuôi sau 1986 nổi bật lên ba khuynh hướngchính, đó là khuynh hướng sử thi, khuynh hướng thế sự - đời tư và khuynhhướng triết luận. Trong ba khuynh hướng ấy thì khuynh hướng thế sự - đời tưđược đánh giá là khuynh hướng thu hút nhiều người tham gia viết nhất, trởthành niềm say mê hứng khởi sáng tác ở nhiều cây bút truyện ngắn xuất học trước 1975 quan tâm đến nội dung “viết cái gì” của các nhàvăn. Chính vì thế mà sự tỏa bóng của “chủ nghĩa đề tài” khá rộng lớn trongvăn xuôi. Những đề tài như ca ngợi cuộc chiến vĩ đại của dân tộc, những tấmgương người tốt, việc tốt được đề cao còn những đề tài đi sâu vào miêu tả sốphận của cá nhân hay đời sống cá thể riêng biệt thì sẽ bị cấm đoán thậm chínhiều nhà văn bị treo bút trong một thời gian dài vì những gì họ viết ra khôngđúng với tinh thần của thời đại. Song sang đến giai đoạn sau 1986, nhờ lờikêu gọi của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà văn học được “cởi trói”. Cảmhứng sử thi tồn tại trong suốt những năm tháng chiến tranh và một vài nămsau đổi mới đã nhường chỗ cho cảm hứng thế sự - đời tư khi con người dầntrở về với cuộc sống thường nhật. Lựa chọn cảm hứng này trong sáng tác, cácnhà văn được mặc sức khám phá thế giới muôn hình muôn vẻ với những nhândạng tồn tại trong hiện thực đó. Mặt khác, nó cũng chi phối đến các phươngdiện khác thuộc trần thuật học trong tác phẩm mà cụ thể là điểm nhìn trầnthuật, tổ chức tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu... Có thể thấy đâylà một hướng đi dù không có nhiều cách tân quyết liệt về mặt hình thức nhưngđã khắc tạc trên cây cổ thụ văn chương nỗi đằm sâu của những nhà văn sốngcó trách nhiệm và nặng lòng với đời sống con Nếu như văn học giai đoạn trước năm 1975 quan tâm đến nhà văn2thể hiện nội dung gì trong sáng tác của mình, những nội dung ấy có phù hợpvới lí tưởng của thời đại hay không, có giá trị cổ vũ tinh thần và ý chí của conngười trong thời đại ấy như thế nào... thì giai đoạn từ sau 1986, cái mà vănhọc và công chúng quan tâm là nhà văn - anh đã làm mới “đứa con tinh thần”của mình như thế nào, nói một cách khác là anh đã có thêm tiếng nói, cáchnói gì. Trong xu thế đổi mới, những gì anh viết ra nếu bị coi là cũ kĩ sẽ khôngcó chỗ đứng trong lòng bạn đọc, vì thế nỗ lực cách tân và làm mới trở thànhtuyên ngôn trong sáng tác của họ. Theo đó, nghệ thuật trần thuật trong tácphẩm được đề cao hơn bao giờ hết, nó là “sự trình bày liên tục bằng lời văncác chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật mộtcách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định” Trần ĐìnhSử. Trong cấu trúc tác phẩm văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng thìtrần thuật bao gồm các yếu tố cấu thành nên một tác phẩm hoàn chỉnh, đồngthời cũng tạo nên một “chất” khác lạ để phân biệt sáng tác của người này vớingười khác, góp phần tạo nên cái “tầm” của nhà văn. Nhà văn nếu lựa chọnhình thức trần thuật phù hợp sẽ đem lại hiệu quả trong cách truyền tải nộidung, tư tưởng của tác những lí do trên, tìm hiểu Phương thức trần thuật của truyện ngắnthế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 chính là một cách để phântích, đánh giá đầy đủ những đặc điểm, thành tựu của truyện ngắn Việt Namthời kì đổi mới trên các phương diện đối tượng, nội dung phản ánh và hìnhthức nghệ thuật. Bên cạnh đó chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu củaluận án này sẽ là những tài liệu tham khảo có giá trị thực tiễn đối với công tácnghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và phổ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận Mục đích nghiên cứuTìm hiểu, đánh giá đặc điểm phương thức trần thuật của truyện ngắnthế sự - đời tư trong văn học Việt Nam từ sau 1986 để khẳng định sự thống3nhất biện chứng giữa đối tượng, nội dung biểu hiện với phương thức thể hiệntrong thể loại truyện ngắn, khẳng định rõ thêm thành tựu của văn học ViệtNam thời kì đổi Nhiệm vụ nghiên cứuĐể đạt được mục đích trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau- Đưa ra quan niệm về truyện ngắn thế sự - đời tư từ góc nhìn của líthuyết tự sự học hiện đại, từ sự khu biệt giữa truyện ngắn thế sự - đời tư vớicác khuynh hướng truyện ngắn khác như truyện ngắn theo khuynh hướng sửthi, truyện ngắn theo khuynh hướng triết Chỉ ra những cơ sở cho sự phát triển của truyện ngắn theo khuynhhướng thế sự - đời tư, tái hiện diện mạo của truyện ngắn theo khuynh hướngnày trong văn học Việt Nam từ sau Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua các phươngdiện như điểm nhìn trần thuật, cách tổ chức tình huống, kết Phân tích những đặc điểm của phương thức trần thuật qua ngôn ngữvà giọng điệu trần Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận Đối tượng nghiên cứuLuận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại truyện ngắn trongvăn học Việt Nam hiện đại từ sau 1986 đến nay. Từ những khảo sát trênthực tế tác phẩm, chúng tôi phân loại truyện ngắn thành 3 khuynh hướng sửthi, thế sự - đời tư và triết luận. Cảm hứng sáng tác chủ đạo là tiêu chí đểchúng tôi phân loại truyện ngắn thành các khuynh hướng như vậy. Trong đóchúng tôi đặc biệt quan tâm tìm hiểu sự vận động và phát triển của truyệnngắn thế sự - đời tư, lí giải những đặc điểm riêng của thể tài truyện ngắn nàytrên cơ sở những lí thuyết chung về thể loại. Luận án tập trung vào phươngthức trần thuật bao gồm điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống, kết cấu,ngôn ngữ và giọng điệu trần Phạm vi nghiên cứuThực hiện đề tài này, chúng tôi dành sự quan tâm đến một số tập truyệnngắn, tuyển tập truyện ngắn đã được xuất bản của các nhà văn tiêu biểu nhưNguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư,Nguyễn Thị Thu Huệ... và một số cây bút trẻ có truyện ngắn đạt giải từ sau1986 đến nay đã được in trong các tuyển ra, trong quá trình thực hiện đề tài, để thấy được sự vận động vàphát triểnphát triển của nó trong mấy mươi Phương pháp thống kê - phân loạiPhương pháp này được sử dụng trong quá trình khảo sát các tác phẩmtruyện ngắn thế sự - đời tư tiêu biểu từ sau 1986 nhằm có những cứ liệu xácđáng cho các luận Đóng góp mới về khoa học của luận án- Luận án cung cấp cái nhìn hệ thống về truyện ngắn Việt Nam giaiđoạn sau 1986 trong bước chuyển của lịch sử văn học, góp phần khẳng địnhmối quan hệ biện chứng giữa nội dung phản ánh, kiểu nhân vật với phươngthức trần thuật trong thể loại Luận án là công trình đầu tiên tìm hiểu và phân tích một cách tươngđối toàn diện, có hệ thống về đặc điểm phương thức trần thuật của truyệnngắn viết theo khuynh hướng thế sự - đời tư trong văn xuôi Việt Nam từsau Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận Ý nghĩa lí luậnBằng việc phân tích phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đờitư trong văn học Việt Nam từ sau 1986, luận án góp phần làm sáng tỏ ý nghĩacủa lí thuyết tự sự học hiện về mặt cấu trúc loại hình, từ việc phân tích, đánh giá truyện ngắnthế sự - đời tư luận án góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quan niệmnghệ thuật về hiện thực, con người với các phương diện thuộc thuộc phươngthức trần thuật của thể Ý nghĩa thực tiễnVới đề tài này, luận án đã khảo sát, khái quát, tổng kết bước đầu cáckhuynh hướng truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 trong đó nổi bật là khuynhhướng thế sự - đời tư. Từ đó, làm sáng tỏ sự vận động, phát triển, thành tựu vàhạn chế của thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện cạnh đó, luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho nhữngngười làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập, những ai quan Cấu trúc của luận ánNgoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận án có nội dung chính gồm 4chương như sauChương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứuChương 2 Truyện ngắn thế sự - đời tư trong sự vận động, pháttriển của văn học Việt Nam từ sau 1986Chương 3 Điểm nhìn trần thuật, tổ chức tình huống và kết cấutrong truyện ngắn thế sự - đời tư từ sau 1986Chương 4 Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật của truyện ngắn thếsự - đời tư từ sau 19867Chương 1TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUTừ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “Truyện ngắn là tác phẩm tự sựcỡ nhỏ. Nội dung của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đờisống đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắnđược viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [94; hành cùng sự phát triển của xã hội, truyện ngắn là một trongnhững thể loại có lịch sử phát triển lâu dài và phức tạp. Sự biến động của xãhội qua từng thời kì lịch sử phát triển của loài người kéo theo sự vận động vàbiến đổi của truyện ngắn thế giới nói chung, truyện ngắn Việt Nam nói đầu thế kỉ XX đến nay, truyện ngắn hiện đại Việt Nam có những thay đổitheo hướng tích cực để thích ứng với sự đổi thay của thời đại, đặc biệt từ thờikì sau 1986, nó đã chứng tỏ là một thể loại có khả năng dung hòa được vớinhịp sống hối hả và bao quát được những vấn đề đặt ra trong xã hội ngày Quan niệm chung về phương thức trần thuật trong truyệnngắn thế sự - đời Khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tưDo tác động của hoàn cảnh chiến tranh, nội dung ưu tiên hàng đầu trongcác tác phẩm văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 là những biến cố lịch sửtrọng đại, nhiệm vụ của đời sống chính trị. Khuynh hướng sử thi vì thế nổi lênnhư một khuynh hướng tiêu biểu và duy nhất của văn học giai đoạn này. Sauđổi mới, văn xuôi từng bước thoát ra khỏi áp lực của “chủ nghĩa đề tài” bằngkinh nghiệm cá nhân đột phá vào các vùng hiện thực mới, chủ quan hóa cáchnhìn đối với những hiện thực vốn quen thuộc. Giá trị tác phẩm bây giờ khôngcòn phụ thuộc vào đề tài nữa mà do cách xử lí nghệ thuật của nhà văn quyếtđịnh. Tương ứng với các mảng hiện thực lớn cùng cảm hứng sáng tác của nhàvăn là những khuynh hướng sử thi, thế sự - đời tư và triết luận. Trong luận ánnày, chúng tôi đặc biệt dành sự quan tâm đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu truyện8ngắn thế sự - đời tư, lí giải những nguyên nhân hình thành, phát triển và sứchút mạnh mẽ của khuynh hướng này đối với các nhà sáng điển Tiếng Việt Hoàng Phê chủ biên định nghĩa thế sự là “việcđời”. Theo cách hiểu khái quát đó truyện ngắn thế sự là truyện ngắn viết vềcuộc sống đời thường, về thế thái nhân tình, về con người của thực truyện ngắn viết theo khuynh hướng này chú ý khẳng định giá trị thẩmmĩ của cái đời thường, khám phá mọi phức tạp, éo le và cả cái cao quý trênhành trình đi tìm sự sống và hạnh phúc của con người. Thế sự làm cho truyệnngắn giàu tính thời sự, mở rộng phạm vi phản ánh của hiện thực đời là một thể tài đã có truyền thống trong lịch sử văn học dân tộc. Từ cácbậc đại thi hào xưa như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến đãkhéo léo đưa vào trong sáng tác của mình bức tranh xã hội đương thời với sựthối nát của giai cấp thống trị và nỗi bi thương của những người dân nghèokhổ. Khuynh hướng này chỉ bị chững lại những năm 1945 - 1975 do văn họcdành sự ưu tiên cho những tác phẩm mang khuynh hướng sử thi, phù hợp vớihoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ. Sang đến giai đoạn 1975, cảm hứng này tiếptục được “phục sinh” và có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bàn về thếsự là bàn đến các nội dung đặc tả bức tranh hiện thực đời sống muôn mặthiện thực lớn - cuộc sống lao động kiến thiết và khôi phục đất nước; hiệnthực nhỏ - cuộc sống hàng ngày của mỗi con người đồng thời đặc sắc củanhững sáng tác viết theo khuynh hướng này còn ở chỗ nó phát hiện ra nhữngkhiếm khuyết trong cơ chế xã hội thời mở cửa, dóng lên hồi chuông cảnh báokịp thời qua những mảnh hiện thực bị cắt rời, nham tư hay đời sống cá nhân được hiểu là “cuộc sống của một cá nhân,đặc biệt được xem như toàn bộ sự lựa chọn cá nhân góp phần nhận dạng tínhcách một người” Theo Từ điển Wikipedia tiếng Việt. Truyện ngắn mang cảmhứng đời tư là truyện ngắn về số phận con người cá nhân. Nó hướng đến đờisống tinh thần phong phú, phức tạp của con người với những ham mê, dục9vọng thường tình, những khắc khoải về số phận, những cảm xúc gần gũi, đờithường. Những tác phẩm thuộc khuynh hướng này thường lấy đề tài trực tiếptừ đời sống hiện tại. Điểm tựa cho kết cấu không phải là các biến cố lịch sửmà là những chuyện hàng ngày, những quan hệ nhân sinh muôn thuở, nhữngứng xử có tính phổ biến hay đột biến của con người. Qua đó nhà văn săn tìmý thức về nhân cách. Con người cá nhân, có lẽ, đã xuất hiện trong các thiphẩm của các thi nhân từ rất lâu và có thể xem giai đoạn 1930 - 1945 với sựxuất hiện của phong trào Thơ mới đã đánh dấu sự thức tỉnh và ý thức về bảnthể mạnh mẽ nhất “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất - Không có chi bè bạnnối cùng ta” Xuân Diệu. Giai đoạn 1945 - 1975 do hoàn cảnh đặc thù conngười cá nhân chìm khuất nhường chỗ cho con người cộng đồng, lịch sử gọitên những người anh hùng mang những nét đẹp thời chiến trận, sử thi phủ lêncác sáng tác văn học tấm áo choàng của lịch sử, số phận của mỗi cá nhân nhưmột lẽ tất yếu, trùng khít với số phận của cộng đồng. Câu hỏi “ta vì ai?” vì thếđược ưu tiên hàng đầu. Khi cuộc sống trở về nhịp quay bình thường như nóphải có, văn học trở về với đời sống cá nhân đó là một quy luật tất yếu. Vănhọc sau 1975 lấy con người làm tâm điểm soi chiếu lịch sử. Con người từđiểm nhìn lí tưởng hóa được đặt vào điểm nhìn thế sự, đời tư. Dòng chảy đờithường ở thời đại ý thức cá nhân phát triển tạo cho con người một diện mạomới; phong phú, phức tạp, nhiều bí ẩn và nhà văn trong nỗ lực khám phá,chiếm lĩnh đời sống nhận ra mỗi cá thể là “một tiểu vũ trụ” không thể biết hết,không thể biết trước. Để con người hiện diện với các quan hệ nhân sinh cụthể, nhiều chiều, đó là cách xử lí phổ biến. Con người đời thường với nhữngẩn mật, khuất lấp hiện lên muôn màu muôn vẻ thực trạng nhân tính suy thoái,con người ham mê dục vọng tầm thường, con người chìm sâu vào hào quangquá khứ... nhưng tiêu biểu và nổi bật hơn cả chính là con người tìm được cáchkhẳng định giá trị tự thân của mình, nói khác đi là con người có giá trị tự được xem như là một trong những phát hiện mang tính nhân bản về con10người của các nhà văn giai đoạn những điều đã trình bày ở trên có thể hiểu truyện ngắn thế sự - đờitư là truyện ngắn viết về cuộc sống hàng ngày và số phận của mỗi con ngườicá nhân trong dòng chảy vô thường ấy. Sáng tác theo khuynh hướng thế sự đời tư, người cầm bút xem cuộc sống hàng ngày đang diễn ra là đối tượngsinh động và thú vị, số phận con người cá nhân là một đích đến của vănchương. Nói cách khác, nó chứng tỏ tinh thần nhân bản và ý thức dân chủ củanhà văn. Sự phát triển của khuynh hướng văn học này gắn với những thay đổitrong quan niệm về đối tượng, chức năng của văn chương, những thay đổitrong hứng thú sáng tác của nhà văn và tâm thế tiếp nhận của công tài này không phải đến văn học sau 1975 mới có mà nó đã manh nha hìnhthành thậm chí có thời kì phát triển đạt được nhiều thành tựu trước đó. Tuynhiên sự vận động của thể tài truyện ngắn này thăng giáng theo nhịp chuyểndời của lịch sử và để đến thời kì sau đổi mới, hội tụ đầy đủ các yếu tố thuậnlợi, nó một lần nữa được phục hồi và hứa hẹn sẽ có những thành tựu đángmong luận án, chúng tôi sử dụng khái niệm truyện ngắn thế sự - đời tưnhư một công cụ khảo sát diện mạo một thể loại văn học dưới góc nhìn thểtài. Cho nên, truyện ngắn thế sự - đời tư trước hết cũng mang những đặc trưngthi pháp của thể loại truyện ngắn, một thể loại tự sự hiện đại độc đáo. Thứnữa, nó khai thác thể tài thế sự - đời tư dưới một góc nhìn, cách tiếp cận riêng,mang hơi thở của lịch sử, thời đại, những tìm tòi, sáng tạo và tư tưởng riêngcủa nhà văn. Xét đến cùng, truyện ngắn thế sự - đời tư cũng là một loại hìnhdiễn ngôn tự sự gắn liền với thế giới quan, nhân sinh quan, sản phẩm của mộthình thái ý thức xã hội, lịch sử mà nền tàng là tinh thần dân chủ, nhân văn, đốithoại, hoài nghi. Thực tế đây không hẳn là một khái niệm mới mà chúng tôi đinghiên cứu một thể loại trong tiến trình lịch sử văn học, chịu ảnh hưởng trongcác tiêu chí phân chia của trường phái Pospelov. Với khái niệm công cụ này,11chúng tôi sẽ có dịp tìm hiểu kỹ hệ thống thi pháp của thể tài truyện ngắn nàyở nhiều cấp độ, phương diện như trần thuật, kết cấu, ngôn ngữ, để thấy nhữngthành tựu, đóng góp, cả hạn chế, nhược điểm, nhưng quan trọng hơn là sự vậnđộng, phát triển của thể tài trong lịch sử văn học và sự sáng tạo của các nhàvăn đổi Quan niệm chung về phương thức trần thuậtVới bất cứ tác phẩm nào thuộc loại hình tự sự truyện thì trần thuậtluôn là yếu tố then chốt, phương diện cơ bản. Theo đó, trần thuật thường đượchiểu là “việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sựkiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định”[94; Cho nên, có thể nói rằng trần thuật chính là việc tổ chức tácphẩm tự sự theo một điểm nhìn, cách nhìn nhất định. Trần thuật gắn liền vớitất cả các yếu tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm như bố cục, kết cấu,tổ chức không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu. Nó là một hệ thống tổchức phức tạp “nhằm đưa hành động, lời nói của nhân vật vào đúng vị trí củanó để người đọc có thể lĩnh hội theo đúng ý định tác giả mối quan hệ giữacâu chuyện và cốt truyện” [94; trần thuật bao giờ cũng gắn với một người kể và điểm nhìn nhấtđịnh. Một tác phẩm tự sự có thể được kể theo người kể chuyện ở ngôi thứ ba,đứng ngoài quan sát, ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất, tự thuật. Điểm nhìn trầnthuật có thể thay đổi linh hoạt, đan cài, di chuyển, luân phiên trong một tácphẩm. Có nhiều cách trần thuật gắn với người trần thuật như trần thuật ở ngôithứ ba khách quan, trần thuật theo ngôi thứ nhất do một nhân vật trong tácphẩm đảm nhiệm, trần thuật bằng dòng ý thức, độc thoại nội tâm. Mỗi điểmnhìn này gắn với một tọa độ không gian, thời gian tạo thành trường nhìn, thểhiện cách nhìn, cách cảm, lập trường, tư tưởng của người trần thuật và của tácgiả. Mỗi sự thay đổi sẽ đem đến một sắc thái, bình diện miêu tả, tái hiện, haytái tạo thế giới khác nhau, đem đến cảm xúc, ý nghĩa đa tầng lớp. Ngoài ra,12cách thành phần trần thuật còn gồm không gian, thời gian, giọng điệu, ngônngữ, tiết tấu, nhịp điệu… Những yếu tố này tương tác, kết hợp hài hòa tạo nêncấu trúc trần thuật nghệ thuật trong tác phẩm tự sự. Tuy nhiên, hai yếu tố thenchốt liên quan đến phương thức trần thuật là người kể chuyện và điểm nhìntrần kể chuyện hiểu theo nghĩa đen chính là người kể câu chuyện chongười đọc nghe. Đây là nhân vật trung tâm của tự sự vì trên danh nghĩa toànbộ văn bản tự sự là sản phẩm của họ tạo ra. Bản thân người kể chuyện với cácyếu tố về chỗ đứng, điểm nhìn, cách thức kể lại câu chuyện sẽ tác động mạnhđến cấu trúc truyện kể cũng như mạch truyện trong tác phẩm. Người kểchuyện có vị trí, vai trò đặc biệt trong nghệ thuật tự sự. Nó chính là mộtphương diện quan trọng thể hiện chủ thể, bởi thái độ của người kể chuyện vớithế giới câu chuyện được kể thống nhất, hoặc ít nhất cũng thống nhất ở mộtphần, một phương diện nào đó với quan điểm, với lập trường tư tưởng của tácgiả. Vì vậy, mỗi loại hình diễn ngôn tự sự đều phải xây dựng một người kểchuyện đặc thù để kể câu chuyện mà chủ thể muốn gửi tới đối tượng tiếpnhận. từng nói “tự sự là cái có thể chuyển ngữ được mà không phảichịu một tổn hại cơ bản nào”, và vai trò chuyển ngữ ấy đặt lên người kểchuyện, điểm khác biệt cơ bản của tác phẩm tự sự với một bài thơ trữ tình haymột diễn ngôn triết hệ thống trần thuật của một diễn ngôn tự sự, mối liên hệ giữa cácyếu tố người kể chuyện - nhân vật - người nghe được thiết lập trong mộtchỉnh thể của chiến lược giao tiếp thể loại. Mối quan hệ hoàn chỉnh của bayếu tố đã đặt ra một vấn đề khác gắn bó chặt chẽ với người kể chuyện - vấnđề điểm nhìn. Mỗi nhân vật người kể chuyện bao giờ cũng gắn với một vị trí,một chỗ đứng nhất định trong không, thời gian, trong mô hình cấu trúc truyệnkể của thể loại, tạo nên những điểm nhìn khác nhau. Như vậy, điểm nhìn nghệthuật gắn liền với người kể chuyện. Nó thể hiện rõ vị trí của người kể với câu13chuyện được kể, từ đó xác định quyền năng của người kể chuyện trong tácphẩm. Do đó, điểm nhìn nghệ thuật gắn với cái nhìn của chủ thể, mối quantâm của anh ta với các vấn đề được kể, tạo ra cái nhìn nghệ thuật cho tácphẩm. Mỗi điểm nhìn thể hiện một vai, vị thế phát ngôn nào đó của chủ nghệ thuật tự sự, vấn đề điểm nhìn thuộc về các kỹ thuật, nguyên tắc tựsự. Nó là một trong những vấn đề then chốt của kết cấu tác phẩm, “cung cấpmột phương diện để người đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật và nhận ra đặcđiểm phong cách ở trong đó” [94; Tuy nhiên, nhìn từ hệ hình cấu trúcvăn bản tự sự, nghệ thuật kể chuyện có ba điểm nhìn điểm nhìn nhân vật,điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn của người đọc. Khi truyện kể trởnên phức tạp hơn thì điểm nhìn thứ tư nảy sinh từ sự khác biệt rõ rệt giữangười kể chuyện và tác tác phẩm tự sự, điểm nhìn có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố cơbản nhất tạo nên phương thức trần thuật của văn bản, là phương tiện để tổchức, kết cấu văn bản nghệ thuật. Do đó, dựa vào việc sử dụng điểm nhìn màngười ta phân chia ra nhiều phương thức tự sự/ trần thuật khác nhau. Theo Từđiển thuật ngữ văn học thì “phương thức trần thuật được cấu thành bởi sựphối hợp giữa tiêu cự trần thuật và cách kể” [94; Tiêu cự trần thuật cóthể chia thành hai loại trần thuật biết hết - điểm nhìn toàn tri vầ trần thuậttheo điểm nhìn nhân vật - điểm nhìn hạn tri. Còn tư cách kể gắn với người kểchuyện nên có thể chia thành người kể lộ diện kể theo ngôi thứ nhất hoặcngười kể ẩn tàng kể theo ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ hai.Có rất nhiều quan niệm chia phương thức trần thuật thành nhiều loạihình khác nhau. Song trên những điểm dị biệt vẫn có nét đại đồng là chủ yếudựa vào cách kể ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, gắn với cái nhìn toàn tri vàhạn tri, người kể lộ diện và ẩn tàng. Theo đó, nhìn chung, chúng ta có thể chiathành một số phương thức sau1. Kể theo ngôi thứ ba, khách quan, người kể biết hết, tiêu cự Kể theo ngôi thứ ba, người kể biết hết, có bình Kể theo ngôi thứ ba, chủ quan do vận dụng điểm nhìn của nhân vậttiêu cự bên trong.4. Kể theo ngôi thứ nhất của người kể bàng quan, đứng Kể theo ngôi thứ nhất có bình Kể theo ngôi thứ nhất mang điểm nhìn của người trong cuộc [94; thân sự phân chia thành các phương thức trần thuật trên đây đã thểhiện quá trình vận động, phát triển của thể loại tự sự trong lịch sử văn sát nghệ thuật tự sự trong tiến trình văn học chúng tôi nhận thấy phươngthức trần thuật theo ngôi thứ ba xuất hiện khá sớm, từ trong văn học dân gianvà trung đại, còn phương thức trần thuật theo ngôi thứ nhất, từ điểm nhìn bêntrong xuất hiện muộn hơn, bắt đầu từ các tác phẩm văn học hiện đại. Ngaytrong cùng một phương thức trần thuật theo ngôi thứ ba thì các tác phẩm tự sựdân gian, trung đại chủ yếu theo các phương thức 1 và 2, phương thức 3 đếnthời cận, hiện đại mới có. Bởi chỉ khi xuất hiện ý thức cá nhân mạnh mẽ, rõrệt, biểu hiện trực tiếp, cụ thể thì điểm nhìn bên trong mới được sử dụng trongnghệ thuật tự sự, để kể truyện đời và truyện của mình bằng góc nhìn, kinhnghiệm, tư tưởng của cá nhân. Khái niệm “tiêu cự” trong phương thức trầnthuật giúp khu biệt được đặc trưng của từng thời kỳ, giai đoạn văn học khácnhau có cùng một hình thức trần thuật ví dụ như việc trần thuật theo ngôi thứba trong văn học trung đại và hiện Phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự, đời tưTìm hiểu phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư, chúngtôi vẫn sử dụng khái niệm phương thức trần thuật và các hình thức phươngthức trần thuật của tự sự nói chung. Tuy nhiên, khảo sát một thể loại tự sự cỡnhỏ là truyện ngắn, gắn với thể tài thế sự - đời tư trong bối cảnh văn học ViệtNam những năm đổi mới từ sau 1986, chúng tôi xem xét những phương16thức trần thuật đặc trưng được sử dụng, lý giải cặn kẽ hơn về các phương thứctrần thuật đó. Từ đó, chúng tôi sẽ bước đầu nhận diện đặc trưng thể loại gắnvới thể tài sẽ chi phối đến hệ thống thi pháp, ngôn ngữ nghệ thuật, mà với tựsự thì quan trọng bậc nhất vẫn là trần thuật, sự kể, cách kể, chiến lược cạnh đó, chúng tôi cũng mở rộng khảo sát, tìm hiểu mọi yếu tố chiphối đến các phương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư như tìnhhuống/ sự kiện, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu… để có cái nhìn toàn tri, đachiều, thấu đáo, đặt phương thức trần thuật trong chỉnh thể tổ chức nghệ thuậtcủa tác phẩm tự sự. Do đó, khái niệm phương thức trần thuật của truyện ngắnthế sự - đời tư được hiểu linh động, mang tính chất công cụ như một cách tiếpcận thể loại văn học này trong giai đoạn văn học đổi mới. Từ đó, chúng tôi đikhu biệt, chỉ ra những đặc điểm riêng, mang tính đặc thù trong nghệ thuật trầnthuật của truyện ngắn thế sự - đời tư với các kiểu thể tài khác như lịch sử, khubiệt trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư trong giai đoạn văn học đổi mớisau 1986 với truyện ngắn nói riêng và các thể loại tự sự nói trong trong giaiđoạn văn học sử thi thế, chúng tôi không định nghĩa duy danh hay đưa ra khái niệm thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư là yếu tố hạt nhân, đặctrưng nổi bật để chúng tôi tìm hiểu, khảo sát, diễn giải và tái hiện một phầndiện mạo của thể loại trong sự vận động của một giai đoạn văn học có nhiềubiến đổi mang tính bước ngoặt. Và việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cácphương thức trần thuật của truyện ngắn thế sự - đời tư thời kỳ từ sau 1986 đếnnay cũng là một cách thay đổi tọa độ, điểm nhìn, phương pháp tiếp cận cáchiện tượng trong lịch sử văn học không đi theo lối mòn của lý thuyết phảnánh mà tìm hiểu bề sâu cấu trúc thể loại trong sự phát triển, thay đổi. Do đó,trần thuật là một cách thức đặc sắc, đặc thù và hữu dụng nhất để tái tạo hiệnthực trong các truyện ngắn, thể loại vẫn được coi là khái quát thế giới từ mộtlát cắt, khoảnh Tình hình nghiên cứu phương thức trần thuật trong văn xuôiViệt Nam từ sau 1986Vào những năm đầu của thế kỉ XX, phương thức trần thuật trong cáctác phẩm tự sự đã được giới nghiên cứu nước ta quan tâm và chú ý. Theo cáchhiểu truyền thống mà Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, phươntình huống, kết cấu; ngôn ngữvà giọng điệu trần thức trần thuật là một vấn đề quan trọng của lý thuyết tự sự đãvà đang thu hút và nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong vàngoài nước. Ở đây, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi xin được đềcập đến một vài công trình nghiên cứu của các lí thuyết gia nổi tiếng có ýnghĩa định hướng về mặt lí thuyết đối với công trình của chúng số nghiên cứu ngoài nướcTrước hết, ở nước ngoài, người có công đầu trong việc nghiên cứu nghệthuật tự sự phải kể đến là một nhà nghiên cứu người Anh. Trongtác phẩm Nghệ thuật văn xuôi, ông đã đưa ra bốn hình thức trần thuật cơ thức trần thuật thứ nhất có tên gọi “toát yếu toàn cảnh” có đặc điểm làsự xuất hiện của người trần thuật toàn tri, có quyền quyết định số phận cácnhân vật của mình. Hình thức trần thuật thứ hai có tên gọi là “người trầnthuật kịch hóa” có đặc điểm người trần thuật đứng ở ngôi thứ nhất xưng “tôi”kể lại câu chuyện mà mình được chứng kiến hoặc chính bản thân mình đã trảiqua. Hình thức trần thuật thứ ba có tên gọi “ý thức kịch hóa” cho phép miêutả đời sống nội tâm phức tạp, sự giao tranh những xúc cảm tâm lí của nhânvật. Cuối cùng là hình thức trần thuật thứ tư có tên “kịch thực thụ” gần vớitrình diễn sân khấu bởi vì ở đây trần thuật được đưa ra dưới dạng một cảnhdiễn trên sân khấu, người đọc chỉ có thể thấy được nhân dạng và các cuộc đốithoại của nhân vật mà không hiểu gì về đời sống nội tâm. Và trong quan niệmcủa mình, coi hình thức trần thuật này là hình thức hoàn hảo trong tác phẩm Điểm nhìn trong tiểu thuyết đã đưa ra mộtsự phân loại tương đối chi tiết về người kể chuyện. Thứ nhất là hình thứcngười kể chuyện “toàn năng biên tập”, người kể chuyện xuất hiện trong vai“nhà xuất bản - nhà biên tập”, họ biết tất cả và có khả năng xâm nhập vào câuchuyện dưới dạng những trao đổi về cuộc sống, phong tục và đạo đức. Thứhai là hình thức người kể chuyện “toàn năng trung tính”, không có sự canthiệp trực tiếp của người kể chuyện. Thứ ba là hình thức trần thuật “tôi lànhân chứng”, người kể chuyện kể từ ngôi thứ nhất, là một nhân vật trongtruyện nhưng không tham gia vào câu chuyện mà chỉ hiểu biết ít ỏi về cácnhân vật. Hình thức trần thuật thứ tư là hình thức “tôi là vai chính”, người kểchuyện là nhân vật chính trong câu chuyện. Thứ năm là hình thức trần thuật“toàn năng cục bộ đa bội”, người kể chuyện đứng bên ngoài câu chuyện, căncứ vào điểm nhìn của nhiều nhân vật để kể chuyện. Thứ sáu là hình thức trầnthuật “toàn năng cục bộ đơn bội”, người kể chuyện đứng bên ngoài và dựavào điểm nhìn của một nhân vật trong truyện để kể. Thứ bảy là hình thức trầnthuật theo “mô thức kịch” và cuối cùng là trần thuật theo kiểu “camera”. Ở20hai hình thức sau này hầu như người kể chuyện chỉ khách quan ghi lại các sựviệc, hiện tượng mà không tỏ bất cứ một thái độ chủ quan một nhà nghiên cứu Liên Xô trong cuốn Dẫn luận nghiêncứu văn học cũng bàn về vị trí người trần thuật trong nghệ thuật trần thuật đãphát biểu “Trần thuật tự sự bao giờ cũng được tiến hành từ phía một ngườinào đó. Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích, truyện ngắn trực tiếp hay gián tiếpđều có người trần thuật” [136; Theo Pospelov thì “người trần thuật làloại người môi giới các hiện tượng được miêu tả và người nghe hoặc ngườiđọc là người chứng kiến và người cắt nghĩa các sự việc xảy ra”. Ở đây,Pospelov đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của người kể chuyện trong nghệthuật trần thuật. Ông cũng cho rằng có hai kiểu người trần thuật phổ biến“Hình thức thứ nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhânvật hóa mà đằng sau là tác giả. Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn có thểxuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái “tôi” nào đó” [136; số nghiên cứu trong nướcBên cạnh các nhà nghiên cứu nước ngoài, các nhà nghiên cứu trongnước cũng dành sự quan tâm đến nghệ thuật trần thuật . Trong cuốn Tự sự họctập 1, Lại Nguyên Ân với bài viết “Về việc mở ra môn Trần thuật học trongngành nghiên cứu văn học ở Việt Nam” đã đồng nhất trần thuật học với tự sựhọc và cho rằng “Thực chất hoạt động trần thuật là kể, là thuật; cái đượcthuật, được kể, trong tác phẩm văn học tự sự là chuyện” [141; và“Trần thuật học hiện đại quan niệm tác phẩm nghệ thuật như một hiện tượnggiao tiếp nghệ thuật” [141; Đình Sử trong Từ điển thuật ngữ văn học đã đưa ra ý kiến khá hệthống và sâu sắc về vấn đề này. Nhà nghiên cứu cho rằng “Người trần thuậtlà một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữcủa anh ta tạo thành” [94; Ông chỉ ra năm chức năng của người trầnthuật “1 chức năng kể chuyện, trần thuật; 2 chức năng truyền đạt, đóng vai21 học/Tự sự học, Ngôn ngữ học, Văn học...cũng lần lượt ra mắt công chúng với một sốlượng đáng phương Tây có Lý luận tự sự đương đại Recent Theories of Narrative củaWallace Martin 1986, Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể Introduction to theStructural Analysis of Narratives của Roland Barthes 1977, Ngôn ngữ trần thuật –ngôn ngữ trần thuật mới Narrative Discourse – New Narrative Discourse của 1986, Trần thuật học Dẫn luận lý luận tự sự Narratology Introduction to theTheory of Narrative của Mieke Bal 1985, 1997. Kết cấu của thời gian trong tự sự hưcấu La Configuration Du Temps Dans Le Récit De Fiction của Paul Ricoeur1983-1985, Quyền uy của sự hư cấu Fictions ò Authority của Susan S. Lanser1992,Tự sự như là một phương pháp tu từ Narrative as Rhetoric của James Phelan1996, Lý luận tự sự của hậu hiện đại Postmodern Narrative Theory của Mark Currie1998, Tân tự sự học Narratologies do David Herman chủ biên 1999, Hướng dẫn líluận tự sự đương đại A Companion to Narative Theory do James Phelan và Peter chủ biên 2005…Ở Trung Quốc có Tự sự học nghiên cứu do Zhang YinDe tuyển chọn 1989, Dẫnluận tự sự học của Luo Gang 1994, Trung Quốc tự sự học của Yang Yi 1997, Nghiêncứu về trần thuật học và phong cách học tiểu thuyết của Shen Dan 2004, Trần thuậthọc của Dong Xiaoying 2001, Lý luận tự sự và văn hóa thẩm mỹ của TanJunqiang2002, Mỹ học tự sự của Geng Zhanchun 2002, Sự chuyển biến của mô thứctự sự của tiểu thuyết Trung Quốc của Chen Pingyuan 2003, Sơ khảo về mẫu/paradigm của ngôn ngữ tự sự trong tiểu thuyết đương đại của Wu Peixian 2003,Conđường Trung Quốc của Tự sự học do Zu Guosung chủ biên 2007.Ở Việt Nam có Nguyễn Đức Dân với Lôgic và Tiếng Việt 1996, Đặng Anh Đàovới Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại 1995, Nguyễn Thái Hòa với Những vấnđề thi pháp của truyện 2000, Nguyễn Lai với Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận vănhọc 1998, Lê Thị Tuyết Hạnh với cuốn Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tựsự qua các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-19952003, Nguyễn Thị Thu Thủyvới Luận án Tiến sĩ Ngữ văn về đề tài Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Namsau 1975 điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện 2003, Lê Thời Tân với bài Tự sự họctên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết, Thái Phan Vàng Anh với Ngôn ngữ trầnthuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, Cao Kim Lan với Người kể chuyện và mốiquan hệ giữa người kể chuyện với tác giả, vân vân, là những công trình đã nghiên cứungôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn cũng như thời gian từ khía cạnh ngôn ngữ học và vănhọc. Trong cuốn Tự sự học, một số vấn đề lí luận và lịch sử do Trần Đình Sử chủ biên2004, đã tập hợp được rất nhiều bài viết của các nhà phê bình có liên quan đến lĩnhvực điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện trong văn xuôi nghệ thuật. Dưới đây, xin điểm qua nội dung chính của một số công trình được nêu ở trên, đểsẽ góp phần làm rõ khái niệm Ngôn ngữ trần Ngôn ngữ trần thuật – ngôn ngữ trần thuật mới Narrative Discourse – NewNarrative Discourse của G. đã vận dụng lý thuyết Trần thuật học để khảo sát và bàn luận về bộ tiểuthuyết nổi tiếng Đi tìm thời gian đã mất của nhà văn trứ danh Pháp Marcel dẫn luận của Ngôn ngữ trần thuật, Genette đã khu biệt ba hàm nghĩa của tự sự larecit, định nghĩa ba khái niệm truyện, tự sự và trần thuật. Đồng thời, Genette cũngvận dụng cả lý thuyết ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure để giải thích truyện kể,tự sự và trần thuật. Trong đó, “cái được biểu đạt” hoặc nội dung trần thuật tức truyệnkể - thường chỉ những sự kiện/sự tình hoặc chân thực hoặc hư cấu; “cái biểu đạt”, trìnhbày, lời nói hoặc văn bản trần thuật là tự sự theo nghĩa gốc - chỉ những chuỗi lời nóihoặc văn bản kể về những sự kiện/sự tình đó; còn tất cả những hành động kể/trần thuậtmang tính sáng chế sản xuất ra những văn bản có nội dung truyện kể và kể cả nhữngtình cảnh thực hay hư ảo mà hành động trần thuật xảy ra trong đó đều là trần thuật. [71,tr. 7]Một hàm nghĩa nổi bật nhất, quan trọng nhất và cũng được chú ý nhiều nhất củatự sự là nó đảm nhiệm bằng miệng hoặc chữ viết công việc trình bày về một hay mộtchuỗi sự kiện/sự tình. Rõ ràng với nghĩa như thế tự sự là chỉ hành động trần thuật. Vậykhông có hành động trần thuật thì không có trần thuật, có khi thậm chí không có nộidung trần thuật. [71, tr. 6] Có hành động trần thuật thì phải có chủ thể trần thuật. Genettequan niệm rằng, không thể có những tự sự không có người trần thuật. Nếu không cóngười trần thuật, tự sự sẽ không thể được thực hiện, và đó sẽ là một hành động vô trầnthuật, vì thế cho nên nó dứt khoát là một trần thuật không có hành động giao tiếp [71, trong cuốn sách này, Genette chia khái niệm tự sự theo nghĩa rộng ra baphạm trù Thời gian quan hệ thể hiện thời gian truyện kể và thời gian ngôn ngữ/lời nói;Ngữ thể phương thức cảm nhận truyện kể của người trần thuật, gồm vấn để “điểmnhìn” và Ngữ thức các loại hình lời nói được người trần thuật sử dụng, tập trung thểhiện vấn đề “khoảng cách” và ngôi [71, tr. 9]. Đó sẽ là những luận cứ quan trọng củaluận án chúng kể về một sự kiện/sự tình, người ta có thể kể ít hay nhiều tùy từng trường hợpvà ý mình, cũng có thể kể từ khía cạnh này nọ tùy theo sự cần thiết của mình. Phạm trùngữ thức của trần thuật chính đề cập đến khả năng trên. Nói một cách chính xác và cụthể hơn, những thông tin được kể lại, thường khác về trình độ được thể hiện, có thểđược thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít, từ khía cạnh này hay khía cạnh nọ,được người tiếp nhận từ vị trí như thế nào những chi tiết thông tin đó, đều có thể điều tiết bằng các loại hình lời nói của người trần thuật, trong đó, có các kiểu thoại dẫn. [71, Thoại dẫn reported speech là lời người khác hoặc lời dẫn từ sách vở khácđược đưa vào lời nói hoặc bài viết của người nói/người viết. Thoại dẫn trực tiếp, thoạidẫn gián tiếp, thoại dẫn tự do gián tiếp vân vân là những hình thức ngôn ngữ khác nhaunhằm cùng diễn đạt một nội dung. Đặc trưng của các hình thức thoại dẫn cụ thể đượcthể hiện bằng sự biến đổi về nhân xưng, thời gian, từ ngữ, loại hình câu và dấu đổi phương thức ngôn ngữ của người trần thuật cũng như nhân vật trong văn bảntrần thuật thường được làm thay đổi luôn phong cách, đồng thời, điểm nhìn và khoảngcách trần thuật cũng được điều tiết và hạn chế hữu hiệu. Trong văn bản trần thuật, thoạidẫn là lời nhân vật được đưa vào lời của người trần thuật. [42, tr. 132 ] Trần thuật học Dẫn luận lý luận tự sự của Mieke Bal là một công trìnhquan trọng về lí luận Trần thuật học, tập trung giới thiệu các thành phần/yếu tố elementschủ yếu về lí luận tổng hợp của văn bản trần thuật/tự sự từ các khía cạnh văn bản text,câu chuyện story và tài liệu fabula, giải thích lí thuyết cơ bản đề cập đến các yếu tốvề lí luận tự sự như sự kiện event, người hành động actors, thời gian time, địa điểmplace, tiêu điểm trần thuật narrative focalization, người trần thuật/người kể chuyệnnarrative subject vân Bal, văn bản text là một chỉnh thể có giới hạn và cấu trúc nhất định tổ hợpbởi những ký hiệu ngôn ngữ. Ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu quan hệ giữa trạng tháithời gian và sự kiện trong các mô thức ngôn ngữ của văn bản tự sự, tập trung vào cácmối quan hệ có thể giữa truyện kể và văn bản tự sự, quá trình trần thuật và văn bản trầnthuật/tự sự, truyện kể và quá trình tự sự. Nó không quan tâm đến bản thân truyện kể vàcũng không đề cập đến việc xây dựng truyện kể hoặc tình tiết. Cụ thể hơn, Ngôn ngữtrần thuật chỉ khảo sát những vấn đề như hình thái thời gian, hình thức ngôn ngữ tứcloại hình ngôn ngữ mà người trần thuật đã sử dụng, quan điểm của Genette và hình tháingôn ngữ tức phương thức cảm nhận truyện kể của người trần thuật, quan điểm củaGenette [73, tr. 2]. Lý luận tự sự hậu hiện đại của Mark Currie tập trung thảo luận những đổithay của hậu hiện đại và giải cấu mang tính chất triệt để về các yếu tố lí luận tự sự như“khách thể tự sự”, “thời gian và không gian tự sự”, “chủ thể tự sự” vân vân trong Tựsự học truyền thống hay còn gọi là Tự sự học kinh điển. Tư tưởng của tác giả đã tiếpnhận và thể hiện những trào lưu tư tưởng hiện đại của các đại gia, trong đó, có Chủnghĩa giải cấu của Derrida, Hình thái ý thức của Althusser, Chủ nghĩa Hậu hiện đại củaTriết gia Pháp Jean-Francois Lyotard, Chủ nghĩa Tân lịch sử của Nhà tư tưởng PhápMichel foucault, xây dựng lại lí luận tự sự. Hai chủ đề quan trọng được thể hiện trongcuốn sách là quan hệ giữa tự sự với thân phận, vai trò của thời gian trong việc trầnthuật đã đi suốt cả tác phẩm. Chung quanh hai chủ đề đó, những vấn đề “tiểu thuyết”, “phê bình” và “ý thức hệ” đã được liên kết với nhau. Tự sự, thân phận, thời gian và ýthức hệ là những cái được các nhà nghiên cứu hậu hiện đại chú tâm trong nghiên cứuvăn học cũng như nghiên cứu văn hóa hiện Nghiên cứu về trần thuật học và phong cách học tiểu thuyết của Thân Đanlà một cuốn sách có những nghiên cứu độc đáo và toàn diện kết hợp cả Trần thuật họcvà Phong cách học tiểu thuyết. Ngoài đánh giá và phân tích một cách sâu sắc và toàndiện những lí thuyết cơ bản của Trần thuật học và Phong cách học tiểu thuyết, tác giả đãdành cả ba chương tập trung nghiên cứu và đánh giá những mảng trùng khớp của Trầnthuật học và Phong cách học tiểu thuyết từ các khía cạnh như “diễn ngôn trong Trầnthuật học” với “văn bản trong Phong cách học tiểu thuyết”, “phân loại, tính chất và vaitrò của các loại góc độ trần thuật khác nhau”, “các loại hình thức diễn đạt khác nhauvà vai trò của lời nói nhân vật” , bổ sung và làm rõ hơn những vấn đề trước đây tuy đãcó nhiều nhà nghiên cứu đề cập và tìm hiểu nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót và mơ hồnhư các khái niệm trần thuật, điểm nhìn, ngôi... dựa trên cơ sở phân tích văn bản vănhọc nổi tiếng trên thế Trong cuốn Trần thuật học của Đổng Tiểu Anh, Trần thuật học được tác giảquan niệm là nghiên cứu làm thế nào để diễn đạt quan điểm, ý thức, tư tưởng bằng cáchình thức nghệ thuật tức các phương thức của trần thuật của văn bản. [58, tr. 43] Tácgiả đã khảo sát tất cả mọi hình thức trần thuật được thể hiện trên các văn bản trong dòngchảy lịch sử. Đồng thời, từ khía cạnh hiểu biết về ngôn ngữ của loài người, từ quan hệgiữa tư duy con người với kí hiệu ngôn ngữ, tìm hiểu tác động của phương thức tư duyđối với phương thức diễn đạt, và quan hệ suy lí lôgíc trong việc lí giải, rút ra quy luật tựthân mà ngôn ngữ văn học diễn đạt. Tác giả không phải chỉ đơn thuần bàn về quan hệgiữa Ngôn ngữ trần thuật và văn bản, mà còn đi từ khía cạnh lí tính và tư duy con người,kết hợp với những biểu hiện của văn bản để trình bày quan điểm của mình. Do tư duycon người muôn hình muôn vẻ, phương thức trần thuật cũng bởi thế mà trở nên huyềnbí. Và qua phương thức trần thuật đó, cái ý nghĩa hoặc cái tôn chỉ cuối cùng của văn bảnđược phơi trần ra trước mắt mọi người dưới sự phận tích từng bước một, từng cái mộtnhư của phân tâm Trong cuốn Lý luận tự sự và văn hóa thẩm mỹ, ông Đàm Quân Cường cũngtập trung quan tâm đến nội bộ của văn bản tự sự. Ông cho rằng, lí luận trần thuật hoặc tựsự là thông qua những tác phẩm tự sự cụ thể, tức những cái gọi là “lời nói” parole,“diễn ngôn” discours, “kết cấu bên ngoài” surface structure, tìm ra yếu tố cấu thànhcủa lời nói, diễn ngôn và kết cấu bên ngoài, để rồi tìm hiểu cơ chế cấu tạo cụ thể củachúng. Quá trình này cũng nhằm tìm hiểu cái khả năng hình thành ngữ pháp tự sự hay là“ngôn ngữ trần thuật”. Đối tượng nghiên cứu của lý luận tự sự là các văn bản text tựsự. Trong các tác phẩm tự sự, văn bản tự sự text xuất hiện dưới hình thức “văn bản trần thuật” hoặc “ngôn ngữ tự sự”, trọng tâm của văn bản tự sự text là người trần thuật trầnthuật trong văn bản, kể về văn bản có một truyện kể nhất Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều công trình nghiên cứu công trình nghiên cứu Những vấn đề thi pháp của truyện, Giáo sư NguyễnThái Hòa đã khảo sát và nghiên cứu những yếu tố quan trọng trong truyện là "lời kể" và"lời thoại", "không gian", "thời gian" và "giọng" vân vân từ nhiều khía cạnh, góc độkhác nhau. Khi định nghĩa cho Truyện, ông cho rằng, Truyện khác với các văn bản khácở chỗ các sự kiện trong Truyện diễn ra "trong sự sắp xếp, sự lựa chọn thời gian củangười kể", [28, tr. 192] "Truyện là văn bản chiếu vật diễn tiến trong thời gian tự nó màngười kể đã chọn cho nó." [28, tr. 193] Quan điểm của ông cho thấy thời gian là mộtyếu tố không thể thiếu của truyện, nó không phải là thời gian tự nhiên trong vũ trụ, mà làthời gian đã được sắp xếp lại theo ý đồ của người kể, mang tính chủ nghiên cứu về thời gian trong truyện, chị Lê Thị Tuyết Hạnh đã khẳng địnhvai trò quan trọng của thời gian trong các yếu tố cấu trúc lên một văn bản tự sự văn công trình Thời gian nghệ thuật trong cấu trúc văn bản tự sự qua các truyệnngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1995, chị Hạnh đã đi sâu khảo sát quan hệ giữa thờigian với sự kiện cũng như thời gian với tâm lý nhân vật, xét dưới góc độ truyện. Thờigian được xem xét như là một trung tâm trong việc tổ chức một tác phẩm văn học. Tácgiả quan niệm rằng, thời gian có "chức năng như một thủ pháp, một tín hiệu, có giá trịnghệ thuật riêng", [18, tr. 191] nó phối hợp với những yếu tố khác trong một hệ thốngvăn bản tự sự văn học như điểm nhìn, giọng kể ... để thể hiện tính liên tục và tính lôgíccủa sự kiện lịch sử hay tính ước lệ, phi thời của tâm trạng tâm lý nhân vật. Bởi thế, hìnhthức thời gian trong truyện cũng trở nên "phong phú, đa dạng, biến hóa của các kiểuloại", giữa các hình thức đó, có sự xâm nhập và giao thoa nhất viết Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện củaNguyễn Thái Hòa phân biệt điểm nhìn trong văn bản tự sự với điểm nhìn của lời nóitrong giao tiếp thường ngày. Tác giả cho rằng hai điểm nhìn đó có nét giống nhau nhưngvề cơ bản, chúng khác nhau về chức năng và cấu trúc. Theo tác giả, "Điểm nhìn nghệthuật, là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật, ... là một cấu trúc tiềm ẩn đượcngười đọc tiếp nhận bằng thao tác suy ý từ các mối quan hệ phức hợp giữa người kể vàvăn bản, giữa văn bản và người đọc văn bản, giữa người kể và người đọc hàm ẩn." [27,tr. 96]Dựa trên cơ sở lí thuyết hội thoại và lí thuyết điểm nhìn, trong bài Về khái niệm"truyện kể ở ngôi thứ bá ba" và "người kể chuyện ở ngôi thứ ba", Nguyễn Thị ThuThủy đã làm sáng tỏ sự khác biệt về khái niệm "truyện kể ở ngôi thứ ba" và "người kểchuyện ở ngôi thứ ba", và cho rằng, nên gọi một cách chính xác hơn "truyện kể ở ngôi thứ ba" một là "Truyện kể có NKC hàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật", hai là "Truyệnkể có NKC hàm ẩn kể theo điểm nhìn của mình". [39, tr. 145] Luận án Tiến sĩ ngôn ngữhọc với đề tài Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 điểm nhìn vàngôn ngữ kể chuyện của chị Thủy cũng khảo sát và nghiên cứu về điểm nhìn và tìmhiểu quan hệ điểm nhìn với các phương thức kể công trình về Trần thuật hay Ngôn ngữ trần thuật được điểm qua trên đây chỉlà một phần của những tác phẩm hoặc tập trung nghiên cứu hoặc chỉ ít nhiều đề cập đếnngôn ngữ trần thuật, còn chưa kể đến những bài báo đã được công bố của nhiều nhànghiên cứu làm rõ và xác định khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, luận án trình bày các nộidung sau đây01. Quan niệm về Trần thuật và Ngôn ngữ trần thuật02. Quan niệm về Người trần thuật03. Quan niệm về Điểm nhìn04. Quan niệm về Thời Quan niệm về "trần thuật" và "ngôn ngữ trần thuật"Genette cho rằng tất cả những hành động trần thuật mang tính sáng chế sản xuất ranhững văn bản có nội dung truyện kể và kể cả những tình cảnh thực hay hư ảo mà hànhđộng trần thuật xảy ra trong ấy đều là trần thuật. Trần thuật là một kết cấu đẳng lập chỉhành động kể, nó liên quan mật thiết đến Người kể chuyện/người trần thuật, thuộc về kỹxảo trần thuật/kể chuyện trên bậc diễn ngôn discourse trong văn bản văn ngữ đã cấu trúc lên phương thức trần thuật. Đối với một bộ tiểu thuyết, cáiquan trọng là nó được viết như thế nào, bằng một hệ thống ngôn từ gì và hình thức câunhư thế nào để làm cho câu chuyện/sự kiện xảy ra trước mắt người đọc. Tất cả nhữngthứ trên có liên quan đến cấu tạo nội bộ trên bình diện ngôn ngữ của tác phẩm vănhọc/văn bản tự sự được tổng hợp lại trong một khái niệm Ngôn ngữ trần Quan niệm theo hướng ngôn ngữ học - lý thuyết hành động ngôn từNhững người mở đầu cho lý thuyết hành động ngôn từ là Austin với cuốn Howto do things và Searle với cuốn Speech lý thuyết này, "một lời nói bao giờ cũng phải được thực hiện thông qua cáchành động ngôn từ hành động nói gồm ba hành động liên quan đến nhau. Đó là hànhđộng tạo ngôn, hành động ngôn trung và hành động dụng ngôn". [34, Mỗihành động ngôn từ trên có một tác dụng riêng và cụ thể cho mọi hoạt động lời Hành động tạo ngôn locutionary act là hành động nói tạo ra lời nói mang mộtlượng thông tin nhất định và truyền thông tin đó cho người ta Hành động ngôn trung illocutionary act là hành động nói nhằm thực hiện mụcđích giao tiếp nhất định của lời nói đích ngôn trung như trần thuật, cầu khiến, hỏi bằng lực thông báo của một phát ngôn lực ngôn trung.- Hành động dụng ngôn perlocutionary act là hành động nói nhằm đạt đượchoặc gây hiệu quả nhất định đến tâm lý người nghe thông qua lời ba loại hành động trên, lý thuyết hành động ngôn từ quan tâm nhiều đếnhành động ngôn trung vì nó có thể thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại [34, bộc lộ tính cách của người phát động ngôn trung nằm ngay trong lời nói và được nhận diện bằng dấu hiệungôn ngữ ở mặt hình thức hoặc ở mặt ý nghĩa. [34, Căn cứ theo đích ngôn trung,các hành động ngôn trung khái quát là trần thuật được phân chia thành các kiểu hànhđộng ngôn từ cụ thể hơn là trình bày, đánh giá... được phân biệt với các kiểu cầu khiến,hỏi. Trong đó, hành động trần thuật thuộc kiểu hành động trình bày. Ngôn ngữ trầnthuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trần bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mở rộng nhằmkể lại các sự kiện cho người tiếp nhận trần thuật biết, đồng cảm và nhận xét cùng trình tạo dựng một văn bản trần thuật của người trần thuật cũng là một hành độngngôn từ, cụ thể là hành động tạo tích ngôn ngữ trần thuật trong các văn bản tự sự tương đương với việc phântích hành động ngôn trung, tức người trần thuật làm thế nào và bằng hình thức gì đểphản ánh thực tại của một sự kiện và đồng thời, làm cho hành động ngôn từ của ngườitrần thuật mang lại hiệu lực, hiệu quả nhất động ngôn trung tức mục đích trần thuật của người trần thuật thường nằmtrong diện ngôn ngữ và được nhận diện bằng các ký hiệu ngôn ngữ, đó là những hìnhthức biểu hiện của ngôn ngữ người trần thuật gồm các từ ngữ chỉ nhân xưng và ngôi,các từ ngữ và ngữ đoạn biểu thị nghĩa thời gian...Qua các dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng hành động ngôn từ, người ta cóthể nhận diện tính cách, tâm lý của người phát ngôn và do vậy, hành động trần thuậtđược phân tích một cách khách quan, khoa học hơn mà được giảm tính tư biện, chủquan. Vì vậy, việc phân tích tâm lý, tính cách nhân vật từ góc độ ngôn ngữ sẽ có tínhkhách quan, khoa học, giảm thiểu được tính tư biện, chủ Các quan niệm theo hướng văn Một số quan niệm về "trần thuật"Muốn làm rõ khái niệm Ngôn ngữ trần thuật, trước tiên phải xác định trần thuật làgì. Theo quan niệm của ông Đàm Quân Cường, “trần thuật” là một quá trình giao lưumà nội dung trần thuật với tư cách là thông tin được người phát ra thông tin addressertruyền đến cho người tiếp nhận thông tin addressee [65, Không phải hễ ai đó mởmiệng ra thì là “trần thuật”, trần thuật với nghĩa đen của nó là phải có sự kiện để thôngbáo, sự kiện đó có thể tồn tại thực sự trong thế giới thực tại lẫn hư cấu. Xác định một diễn ngôn/cú đoạn có phải đang tự sự, có thể xét dưới góc độ diễn ngôn đó được triểnkhai mở rộng từng bước một thành một câu chuyện hoặc lớn hoặc nhỏ, thậm chí là mộttác phẩm tự sự. Trần thuật có thể kể về sự kiện, sự tình chân thực, cũng có thể kể về sựtình hư luận tự sự nghiên cứu về cái quá trình trần thuật xuất hiện trong văn bản trầnthuật narrative text hay tác phẩm hư cấu narrative fiction [65, tr. 11]. Văn bản trầnthuật là văn bản mà người phát ngôn của việc trần thuật trình bày hay “kể” về chuyệnkể bằng một phương tiện trung gian như ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, nghệ thuậtkiến trúc, hay bằng một thể phương tiện trung gian hỗn hợp. Vì thế, “văn bản” khôngphải cũng không thể đồng nhất với “chuyện kể”. Chuyện kể được mã hóa bằng nhữngký hiệu ngôn ngữ và qua đó được cấu trúc và đưa vào văn bản bằng hành động “kể”.Chính hành động“kể” trần thuật đó sản sinh ra những ký hiệu ngôn ngữ và dẫn dắt chora mắt “người trần thuật”.Trọng tâm của trần thuật là một quá trình tương ứng trong nội bộ một tác phẩm tựsự, một quá trình giao lưu và truyền đạt nội dung trần thuật từ một người kể chuyện hưcấu đến một người tiếp nhận trần thuật hoặc hư cấu hoặc tiềm ẩn. Vai trần thuật có thểxuất hiện dưới những trạng thái khác nhau căn cứ theo vị trí trong quá trình trần thuật,trình độ tham gia vào câu chuyện. Việc trần thuật được thể hiện qua một người trầnthuật như thế cũng nhất định phải được sàng lọc qua một điểm nhìn nhất định. Nội dungtrần thuật vậy cũng không thể nào nhất trí với trạng thái vốn có khi nó diễn ra, mà đượctrình diễn sau khi đã cấu trúc lại. Văn bản là trạng thái cuối cùng của những tổ hợp bản là một chỉnh thể có giới hạn và được tổ hợp lại bởi các ký hiệu ngôn ngữ hoặcmôi giới, tức ngôn ngữ discourse miêu tả về những câu chuyện đó bằng lối nói hoặcviết. [65, tr. 12] Nếu ngôn ngữ ở đây được lý giải là sự diễn đạt và cấp bậc trần thuật củavăn bản trần thuật thì câu truyện kể thuộc về đối tượng trần thuật hoặc cấp bậc được trầnthuật. [65, tr. 12]Trong quá trình giao lưu của văn bản trần thuật, có thể phân chia ra các cấp bậckhác nhau, nhưng vấn đề là nguyên tắrần thuật sử dụng trong văn bản tự sựđược chia làm 3 hình thức cơ bản một là ngôn ngữ/lời nói trực tiếp, là những ngônngữ/lời nói mà người trần thuật kể ra; hai là ngôn ngữ/lời nói gián tiếp, là ngôn ngữ/lờinói mà người trần thuật kể gián tiếp thông qua ngôn ngữ/lời nói của nhân vật trong hoặcngoài câu chuyện; ba là ngôn ngữ/lời nói chuyển đổi, người trần thuật kể trực tiếp lời nóicủa nhân cho rằng, Ngôn ngữ trần thuật chủ yếu là nghiên cứu các mối quan hệgiữa tự sự narrative và chuyện kể, tự sự và trần thuật, chuyện kể và trần thuật. Ôngđưa ra ba phạm trù của tự sựtheo nghĩa hẹp là thời gian, ngữ thể và ngữ như Genette, khi phân tích và trình bày khái niệm Ngôn ngữ trần thuật,Đàm Quân Cường vận dụng hệ thống lý thuyết Ngôn ngữ học của Saussure về ngônngữ và lời nói để miêu tả và thuyết minh cho cái đối tượng nghiên cứu của mình. Theoông Đàm, sự khu biệt về ngôn ngữ và lời nói của Saussure có thể hình dung hai bìnhdiện nghiên cứu khác nhau của lý luận tự sự. Một là hệ thống được tạo lập bởi tất cả các tác phẩm tự sự và có vai trò hạn định cho những tác phẩm tự sự đó tức ngôn ngữ củaSaussure. Một là sự thể hiện của hệ thống đó trong khuôn khổ của một tác phẩm tự sựnhất định tức lời nói của Saussure.Diễn ngôn discours histoire của Todorov chỉnhững tổ hợp và cấu trúc nghệ thuật được nhập vào câu chuyện khi kể truyện. Những tổhợp và cấu trúc như thế được tiến hành nhờ những biện pháp như điểm nhìn, các kiểuthời gian vân vân. [65, tr. 5] Bởi vậy, ông Đàm Quân Cường khái quát rằng“Văn bản” tức “ngôn ngữ”, là một hệ thống có cấu trúc khuôn khổ nhất định,trong đó các sự tình được tổ hợp lại bởi một kí hiệu ngôn ngữ ngôn ngữ tự nhiên hoặcnhững kí hiệu khác. Cùng với cấu trúc tự sự, Ngôn ngữ trần thuật nghiên cứu trình tựthời gian và sự tình dưới hình thức thể hiện của ngôn ngữ, tập trung vào các mối quanhệ có thể có giữa chuyện kể và văn bản, quá trình trần thuật và văn bản, chuyện kể vàquá trình trần thuật. Mấy thuật ngữ như trần thuật và người trần thuật, tiêu điểmhóa-người tiêu điểm hóa và nhân tố tiêu điểm hóa vân vân thể hiện nổi bật đặc tính củaNgôn ngữ trần thuật. Nhìn chung, quan điểm của ông Đàm Quân Cường có phần trùngkhớp với quan điểm của Genette. Cho nên, quan điểm trên đây của họ sẽ là cái cơ sởchính mà chúng tôi căn cứ vào đó để triển khai phân tích. Nó đã hàm chứa tối đa nhữngyếu tố liên quan của Ngôn ngữ trần Tiểu Anh giải thích Ngôn ngữ trần thuật như sau trần thuật được cấu tạobởi 3 phạm trù là người trần thuật, phương thức trần thuật và ngữ thái, ngữ thức, cấutrúc do trần thuật sản xuất ra. Chị ấy nhất trí với Genette ở chỗ Ngôn ngữ trần thuật nằmtrong ba phạm trù thời, thái, thức của Genette. Nhưng yếu tố được bao hàm trong baphạm trù đó thì khác ông Genette+ Thái là chủ thể trần thuật gồm ngôi, người trần thuật, người tiếp nhận trầnthuật, tiêu điểm hóa, vân vân;Ngữ thái trần thuật nghiên cứu về vấn đề “ai đang nói”, tức quan hệ giữa ngườitrần thuật và việc trần thuật. Nó gồm quan hệ giữa người trần thuật với điểm nhìn củanhân vật và nhân xưng; quan hệ giữa hình tượng nhân vật được hình thành do việc trầnthuật với thái độ của hình tượng này đối với sự kiện; quan hệ về thái độ của tác giả làkhẳng định hay phủ định đối với nhân vật cũng như sự kiện. [58, tr. 16]+ Thức gồm trình tự, khoảng cách, tần số, dạng thức câu vân thức trần thuật nghiên cứu về vấn đề “nói như thế nào”, tức quan hệ giữaviệc trần thuật và sự kiện, bao gồm những nội dung sau đây1. Sự kiện này diễn ra trong một biên độ thời gian và không gian như thế nào;2. Lần diễn ra của sự kiện, tức tần số trần thuật;3. Sự kiện này là hiện hữu hay hư cấu;4. Những hình thức ngôn ngữ khác nhau để miêu tả, đánh giá vân vân. về sự kiệnđó, tạo thành mô thức trần thuật. Ngoài ra, trần thuật có thể dẫn đến các phương hướng suy lý do sự hiểu biết và cái được trần thuật có khác, và cũng bởi thế mà có nhữngphong cách văn bản khác nhau. [58, tr. 16]+ Cấu trúc của văn bản là cái tổng hợp của các phương thức trần trúc trần thuật chỉ quan hệ giữa việc trần thuật và cấu trúc của văn bản. Cấutrúc văn bản không những chỉ cấu trúc ngoại tại của văn bản, mà còn chỉ cấu trúc nội tại,đó là những yếu tố trần thuật đã phát huy vai trò trong quá trình trần thuật, nhữngphương thức tư duy đã tham gia vào và làm thay đổi phong cách văn Đổng Tiểu Anh cũng cho rằng, phương thức tổ hợp của ngôn ngữ trần thuật làmột hình thức thể hiện thái độ trần độ trần thuật được thể hiện bằng cách lựachọn từ ngữ, việc chọn từ trở thành một biện pháp quan trọng để thể hiện thái độ của tácgiả. [58, tr. 101-102]Thân Đan trực tiếp định nghĩa Ngôn ngữ trần thuật như thếNgôn ngữ trần thuật là thứ ngôn ngữ dùng kể lại câu chuyện bằng lời nói hoặc vănviết, trong văn học, tức là văn bản mà độc giả sẽ tiếp cận. Nó gồm những bộ phậnkhông thể chia tách nhân xưng trong ngôn ngữ là tiêu chí để phán đoán người trần thuậtlà ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba; thời thái trong ngôn ngữ là tiêu chí để phán đoán quanhệ thời gian giữa người trần thuật với chuyện kể ...; diễn ngôn còn thể hiện ai là ngườitrần thuật, có mấy bậc trần thuật và quan hệ như thế nào, vân vân. Ngoài ra, Thân Đanđã xem xét vấn đề Ngôn ngữ trần thuật bằng lý thuyết văn bản học. Nếu xuất phát từkhía cạnh phân tích văn bản, trong một hệ thống văn bản tự sự, có những cấp bậc khácnhau và tương quan với nhau như cơ tầng đặc trưng ngôn ngữ, hiệu quả tâm lý do cơtầng ngôn ngữ đó gây nên, ý nghĩa chủ đề hoặc hiệu quả mỹ học được thể hiện bởi đặctrưng ngôn ngữ của một ngữ cảnh nhất định mà cầu nối của chúng là hiệu quả tâm xuất phát từ khía cạnh Trần thuật học, một hệ thống văn bản tự sự được tạo dựngbởi các cấp bậc như cấp bậc câu chuyện và cấp bậc trần thuật, tức các hình thức ngônngữ nhằm xâu chuỗi lên một văn bản tự sự. Trên cấp bậc trần thuật, lại bao hàm các yếutố như người trần thuật, điểm nhìn, thời gian vân Định nghĩa của "ngôn ngữ trần thuật"Tổng quan các quan điểm về Ngôn ngữ trần thuật được nêu ở trên, điều cần lưu ýnhất là Ngôn ngữ trần thuật chỉ được để cập một cách rải rác, rời rạc, trực tiếp hoặc giántiếp, qua nhiều yếu tố, từ nhiều khía cạnh, bằng nhiều thuật ngữ khác nhau. Vậy, có thểnói, Ngôn ngữ trần thuật là một tập hợp thể của những yếu tố liên quan. Dù thế nào đinữa, các nhà nghiên cứu đã tập trung, đi thẳng cũng như đi sâu vào vấn đề "ai kể - kể cáigì - kể như thế nào" những yếu tố chủ chốt xâu chuỗi nên một văn bản tự sự dưới hìnhthức ngôn đề tài nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi một là nằm trongdiện cơ tầng đặc trưng ngôn ngữ, hai là nằm trong diện cấp bậc trần thuật. Hai thứ đó có Đang tải.... xem toàn văn Thông tin tài liệu Ngày đăng 23/03/2015, 0937 . DIẺN nghĩa và HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ 1. Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí 2. Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí trên phương. tưởng của Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Chương 2 So sánh kết cấu Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thống chí Chương 3 So sánh nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê. Lê nhất thống chí 1 / j0 u y ễ n T k ị x k u ầ n Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đôi với Hoàng Lê nhất thống chí Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIEN n g h ĩa VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THốNG - Xem thêm -Xem thêm Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí, Ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thống chí, , Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CỦA TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 1 Nội dung tư tưởng của Tam quốc diễn nghĩa, 2 Những ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa đối với Hoàng Lê nhất thông chí trên phương diện nội dung tư tưởng, 1 SỰ HÌNH THÀNH THỂ LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI KẾT CẤU CHƯƠNG HỒI, 2 SO SÁNH KẾT CẤU TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 2 Kết cấu đa tuyến, 3 Tính thống nhất trong kết cấu, 4 Phương thức trần thuật, Chương 3 SO SÁNH NHÂN VẬT TRONG TAM QUỐC DIỄN NGHĨA VÀ HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ, 2 Phân loại nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa và Hoàng Lê nhất thông chí, 1 Ngoại hình nhân vật, 2 Tính cách nhân vật, THƯ MỤC SÁCH THAM KHẢO Ngày đăng 11/04/2013, 1030 Đề tài về Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Quốc Thanh CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN Chuyên ngành LÝ LUẬN VĂN HỌC Mã số 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PHÙNG QUÝ NHÂM Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2006 Mục Lục Trang MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài . 1 2. Giới hạn của đề tài . 2 3. Lịch sử vấn đề . 4 4. Phương pháp nghiên cứu .15 5. Những đóng góp của luận văn .16 6. Kết cấu của luận văn 16 Chương 1. Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân .17 Về khái niệm cảm hứng .17 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân 20 Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo nên cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân 20 Về cảm hứng phê phán trong truyện ngắn của Kim Lân 21 Cảm hứng yêu thương và trân trọng con người 28 Cảm hứng về những sinh hoạt văn hoá ở vùng thôn quê . 45 Chương 2. Phương thức trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân 62 Các vấn đề về phương thức trần thuật trong loại hình tự sự 62 Phương thức trần thuật khách quan trong truyện ngắn của Kim Lân 64 Kiểu người trần thuậ t lạnh lùng 65 Kiểu trần thuật hoà mình với nhân vật . 72 Phương thức trần thuật khách quan và những truyện ngắn mang dấu ấn tự truyện của Kim Lân . 74 Phương thức trần thuật chủ quan trong truyện ngắn của Kim Lân 79 Kiểu người trần thuật xưng tôi đóng vai trò người dẫn truyện 80 Kiểu người trần thu ật xưng tôi vừa là người dẫn truyện vừa là một nhân vật . 85 Chương 3. Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân 92 Cấu trúc trần thuật trong tác phẩm tự sự . 92 Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân . 93 Dạng cấu trúc trần thuật theo trình tự thời gian 94 Dạng cấu trúc trần thuật rẽ ngang lồng ghép nhiều tầng bậc trần thuật, ở nhiều thời đ iểm khác nhau .99 Dạng cấu trúc trần thuật theo tâm lí 105 Dạng cấu trúc trần thuật đảo lộn trình tự thời gian 111 Kết luận .116 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1921, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, tỉnh Bắc Ninh. Bởi rất mê tuồng nên nhân vật tuồng Kim Lân đã trở thành bút danh của ông từ những năm bốn mươi của thế kỉ trước. Kim Lân sinh ra ở mảnh đất “đời tạo văn nhân”, “nhân tài nảy nở” nhưng lại không giống như nhiều nhân tài ở mảnh đất này. Ông có một đời sống riêng thua thiệt con một ngườ i vợ thứ ba trong một gia đình bình thường, bị mọi người rẻ rúng . Do điều kiện khó khăn nên Kim Lân chỉ học hết bậc tiểu học. Sau đó làm thợ sơn guốc, sơn bình phong, thợ sơn tranh sơn mài . Kim Lân đến với văn học ban đầu là từ say mê và ham thích. Ông bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Tác phẩm của Kim Lân đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắ c chủ nhật. Ông quan niệm viết văn như cách “đòi cho mình một thân phận, một nhân phẩm, một chỗ đứng trong cuộc sống bé nhỏ quẩn quanh của quê hương” [54, Kim Lân bắt đầu sự nghiệp bằng truyện ngắn Đứa con người vợ lẽ đăng trên báo Trung Bắc chủ nhật 1942. Đây là tác phẩm mang tính tự truyện. Trong những năm 1941 đến năm 1944, Kim Lân viết khá đều. Những truy ện ngắn của ông đăng trên báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật, ông tập trung phản ánh khung cảnh làng quê với cuộc sống và số phận của người nông dân. Những cuộc đời lam lũ, đói nghèo trực tiếp bước vào tác phẩm của ông và những cuộc đời ấy đã toát lên ý nghĩa hiện thực sâu sắc. Một số tác phẩm của ông như Đuổi tà, Con Mã Mái, Ông Cản Ngũ… đi vào đề tài độc đáo tái hiện những sinh hoạt phong phú ở vùng thôn quê. Qua những tác phẩm này, tác giả tập trung biểu hiện vẻ đẹp 2 tâm hồn của người dân quê - những con người cực nhọc nghèo khổ, nhưng vẫn yêu đời, trong sáng và tài hoa. Sau cách mạng tháng tám, Kim Lân tiếp tục viết về làng quê Việt Nam. Trong những tác phẩm Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Người chú dượng . ông tiếp tục viết về những cảnh đời Tội nghiệp, khốn khó và sự đổi đời của người nông dân nhờ cách mạng. Trong những tác phẩ m viết ở giai đoạn này, Kim Lân đi sâu vào thể hiện những thay đổi tình cảm của người nông dân trong cách mạng, kháng chiến, sự đổi đời của họ trong cải cách ruộng đất và những hoạt động cách mạng thầm lặng bình thường nhưng thật đáng quý của họ. Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng tháng tám, Kim Lân viết không nhiều nhưng ở giai đ oạn nào ông cũng có tác phẩm hay. Ông là cây bút viết truyện ngắn vững vàng. “Thành công của Kim Lân chủ yếu do năng khiếu bẩm sinh và vốn sống của người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Một lòng đi về với “đất”, với “ thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn” [89, Truyện ngắn Kim Lân hấp dẫn và được các nhà nghiên cứu quan tâm, đề cập đến ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, v ấn đề cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân cần được xem xét ở bình diện rộng và mức độ bao quát hơn để hiểu rõ tài năng và đóng góp của nhà văn. 2. Giới hạn của đề tài Đối tượng khảo sát Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Tác phẩm đã xuất bản - Làng, truyện ngắn, Tạ p chí Văn nghệ, 1948, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1955. 3 - Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1955. - Ông lão hàng xóm cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng, nhà xuất bản Văn nghệ, Hà Nội, 1957. - Anh chàng hiệp sĩ gỗ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1958 . - Cô gái công trường, truyện phim, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1960. - Vợ nhặt, tập truyện ngắn, nhà xuất bản Văn học, Hà nội, 1984. - Ông C ản Ngũ, nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, 1984. - Tuyển tập Kim Lân, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996. - Kim Lâm - Tác phẩm chọn lọc, nhà xuất bản Hội nhà văn, 2004. Để phục vụ cho đề tài khoa học, đáng lẽ người viết phải khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Kim Lân nhưng do khó khăn trong việc sưu tập tư liệu, hạn chế về thời gian nên ng ười viết chỉ tập trung khảo sát 28 truyện ngắn từ bốn nguồn tư liệu sau - Truyện Cô Vịa, báo Trung Bắc chủ nhật, số135, ngày 8-11-1942. - Truyện Vợ chồng anh đội trưởng, báo Văn nghệ, số13, 1965. - Tuyển tập Kim Lân, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996. - Kim Lân - Tác phẩm chọn lọc, nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2004. Bên cạnh việc kh ảo sát 28 truyện ngắn nêu trên, chúng tôi còn tiếp thu một cách chọn lọc những nhận định đánh giá của các công trình nghiên cứu đã có và những ý kiến của chính tác giả để đảm bảo tính khoa học, tính khách quan cho luận văn. Nội dung vấn đề Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của một tác giả là đề tài gồm nhiều vấn đề. Nhưng do nhu cầu nghiên cứu, nguồn tư liệu, quỹ thờ i gian và những 4 hạn chế nhất định của bản thân, chúng tôi chỉ tập trung vào ba vấn đề cảm hứng chủ đạo, phương thức trần thuật và cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân . 3. Lịch sử vấn đề Phần mở đầu Như đã trình bày ở trên, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của Kim Lân chưa thật nhiều. Các công trình nghiên cứu này có thể chia làm bốn nhóm. Một là, các bài vi ết của nhà nghiên cứu về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân. Hai là, một số bài viết về hai tác phẩm Làng, Vợ nhặt giảng dạy ở trường phổ thông. Ba là, các bài viết của Kim Lân nói về những tác phẩm của mình. Bốn là, luận văn nghiên cứu về đặc điểm truyện ngắn Kim Lân. Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã đi vào đặc điểm truyện ngắn củ a Kim Lân ở những phương diện và những mức độ khác nhau. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ hệ thống những ý kiến nổi bật, những nhận định quan trọng liên quan đến đề tài. Để hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, chúng tôi phân chia ra các nhóm ý kiến sau Hướng tiếp cận về nội dung Kim Lân đến với văn học bằng sự say mê ham thích và ý chí vượt lên số phận. Ông bước vào đời sống văn học còn bởi sự gặp gỡ tình cờ, gắn bó với nhà văn Nguyên Hồng. Nguyên Hồng - người bạn văn của Kim Lân đã nhận xét về những tác phẩm đầu tay của ông Từ giữa những năm 1943 - 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim Lân. Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy… Như ng rồi, chỉ bập vào mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, trái lại nó có cái gì chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ đau… [31, 5 Ở lời nhận xét này, nhà văn Nguyên Hồng đã rất chính xác khi đánh giá về phương diện nội dung và mối quan hệ giữa tác phẩm - hiện thực trong văn chương của Kim Lân. Cũng gần với quan điểm của nhà văn Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra nhận xét Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ Những người nông dân miền xuôi mất nhà mất đất xiêu dạt lên miền ngược, táp vào một xóm chợ bến sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trai, tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hằng ngày. Đã có lúc nhà văn gọi những nhân vật thân thuộc ấy của ngòi bút mình là “ những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp xó xỉnh cu ộc sống”. Cách gọi giống như là sự tự mệnh danh đầy đau xót của chính các nhân vật ấy … Mạch kể chuyện của Kim Lân dường như bắt rất nhạy vào những cảnh thương tâm cảnh bỏ nhà xiêu dạt vì công nợ, thuế khoá, cảnh ăn xin, cảnh chết đường chết chợ, cảnh bị áp bức, đoạ đầy… [2, Khẳng định lại điều này, năm 1994 trong bài viết Nghĩ về nghề văn , nhà văn Kim Lân bộc bạch Tôi đến với văn học ban đầu là từ sự say mê ham thích. Những truyện ngắn đầu tay của tôi như Đứa con người vợ lẽ, Người kép già, Cô Vịa là những truyện ngắn viết về đề tài xã hội. Đó là những câu chuyện về bản thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng nh ư những người gần gũi trong làng xóm của tôi … Tôi viết như một việc được thôi thúc từ bên trong. Những cảm xúc suy tư của tôi đòi hỏi tôi phải viết. Thực chất, viết văn, trước tiên tôi viết về mình [16, … Nói đến tình yêu đất nước, nghe cảm thấy xa xôi, nhưng tình cảm đối với làng thì thật gần gũi, gắn bó. Đối với con người Việt Nam, làng xóm nuôi những con người lớn lên b ằng cả vật chất cũng như tinh thần. 6 Tình yêu của tôi đối với làng cũng như đối với cách mạng là nguồn cảm hứng sâu sắc nhất khi tôi viết Làng [16, Ở những ý kiến trên, Kim Lân khẳng định viết văn đối ông như một sự đòi hỏi cho mình một thân phận, một chỗ đứng trong xã hội. Văn ông là những câu chuyện về bản thân và những người gần gũi trong làng xóm. Nguồn cảm hứng của ông là con người làng quê, quê h ương và cách mạng. Năm 1996 trong lời giới thiệu Tuyển tập Kim Lân, nhà nghiên cứu Lữ Huy Nguyên có trích dẫn ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, Lữ Quốc Văn và Nguyễn Đăng Mạnh Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách đàng hoàng chững chạc [54, . Đó là những trang số phận của các đầu thừa đuôi thẹo, được đưa từ các xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chất chứa nhân thế, nhân tình hoặc những trang tuy nghiêng về nhiều phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh…, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của một người nông dân trước cách mạng - những người số ng vất vả, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa [54, Kim Lân là một nhà tiểu thuyết phong tục hạng nhất của Việt Nam [54, - 19]. Ở ba ý kiến trên, các nhà nghiên cứu đã rất tinh tế khái quát đặc điểm về nội dung trong truyện ngắn của Kim Lân. Từ các ý kiến này, nhà nghiên cứu Lữ Huy Nguyên bổ sung và nhấn mạnh Tuy nhiên nếu có dịp đọc lại các tác phẩm của Kim Lân mà chủ yếu Là truyện ngắ n, ta sẽ thấy ông không phải chỉ là đại diện văn học của loại nhân vật đầu thừa, đuôi thẹo; ông còn là đại diện văn học sáng giá của 7 những lớp người tài hoa, bặt thiệp, phong lưu riêng thú… chọi gà, thả chim, đấu võ, đánh vật… [54, Cùng thống nhất với các quan điểm trên, nhà nghiên cứu Hoài Việt đưa ra nhận xét về hai đề tài chính trong truyện ngắn của Kim Lân Chính cái vốn sống phong phú của ông đã dẫn ông tới với hai đề tài chủ yếu trong nghiệp văn của ông - Số phận những người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ . - Phong tục tập quán, những thú vui, trò chơi nơi thôn dã [88, Ngoài ý kiến về hai đề tài chủ yếu trong truyện ngắn của Kim Lân, nhà nghiên cứu Hoài Việt còn chỉ ra nguồn gốc thành công của Kim Lân là ở cái tâm và cái tài. Cái tâm của ông là lòng thương xót con người hay con vật, là sự chân thật, thẳng thắn, ghét sự khuất tất, ám muội. Cái “tài là con mắt nhìn, cái óc nghĩ, cây bút viết ra” [88, Năm 2003 trong phần giới thiệu về tác giả Kim Lân, nhà nhiên cứu Tr ần Hữu Tá đưa ra nhận xét Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làng quê cùng với cuộc sống, thân phận người nông dân … Những con người của quê hương ông, thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bước vào tác phẩm, tự nó toát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn chưa thật tự giác về điều đó . Kim Lân viết rất hay về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”. Đó là những thú chơi lành mạnh mang màu sắc văn hoá truyền thống của người dân quê như đánh vật, nuôi chó săn, gà chọi, thả chim truyện ngắn Kim Lân viết về phong tục Đuổi tà, Đôi chim thành, Con Mã Mái … hấp dẫn không phải chỉ vì đã cung cấp được những trang tri thức về phong tục mà chủ yếu là vì nhà văn đã làm hiển hiện lên được cuộc sống và con người làng quê Việt Nam cổ truyền, tuy [...]... giảng dạy truyện ngắn Kim Lân ở nhà trường phổ thông 6 Kết cấu của luận văn Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo luận văn gồm có ba chương Chương 1 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân Chương 2 Các phương thức trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân Chương 3 Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân 16 Chương 1 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA KIM LÂN thành tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo được xem là “trung tâm điểm”, là “vương quốc sự thật” của nghệ thuật Cảm hứng chủ đạo không chỉ toát ra từ tác phẩm mà còn xuyên suốt toàn bộ sáng tác của một tác giả Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn của Kim Lân Động lực thúc đẩy sáng tác và ngọn nguồn, đối tượng tạo nên cảm hứng trong truyện ngắn của Kim Lân Nhà văn Kim Lân từng kể về đời mình... nghiên cứu về truyện ngắn của ông còn khá ít Luận văn của chúng tôi sẽ đi vào các vấn đề cảm hứng chủ đạo, phương thức trần thuật và cấu trúc trần thuật Dù các vấn đề đặt ra trong luận văn chưa là tổng quát nhưng chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm hiểu biết về phong cách nghệ thuật của Kim Lân Từ đó, góp phần khẳng định vị trí của Kim Lân trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại và đóng góp một phần nhỏ vào việc... rãi trong luận văn Chúng tôi sẽ đi từ việc khảo sát phân tích từng truyện ngắn, các yếu tố nổi bật thể hiện cảm hứng và nghệ thuật trần thuật, để từ đó rút ra những nhận xét có tính tổng hợp, khái quát Đồng thời, để triển khai vấn đề một cách khoa học, biện chứng, chúng tôi sẽ đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với các yếu tố khác của hệ thống để làm rõ cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật. .. Hướng tiếp cận về nghệ thuật Như đã trình bày, các công trình nghiên cứu truyện ngắn của Kim Lân chưa nhiều Đặc điểm các công trình nghiên cứu về nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân cũng chỉ ở mức độ riêng lẻ, chưa tập trung và hệ thống Năm 1986 trong bài Văn xuôi Kim Lân, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đưa ra nhận định Có lẽ do số lượng tác phẩm không nhiều nên truyện ngắn Kim Lân cũng không thật... bàn tay nhà nghệ sĩ tài ba Kim Lân đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xuôi ” Đó là một đoá hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả Đó là phong cách giản dị mà độc đáo của Kim Lân [68, 13 Năm 2005 trong luận văn Đặc điểm truyện ngắn Kim Lân, tác giả Đặng Thị Huy Lam dành hai chương để khảo sát nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân Ở chương Nghệ thuật dựng truyện và xây dựng... đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy “Công việc đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm” [dẫn theo 20, Về khái niệm cảm hứng chủ đạo, Huỳnh Như Phương đưa ra quan điểm Cảm hứng chủ đạo thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao... phẩm, Hêghen xem cảm hứng chủ đạo như là “ trung tâm điểm ”, “ vương quốc sự thật” của nghệ thuật Ông cho rằng Cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần 18 như là xuyên suốt vào nó Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem như là một sản phẩm của “một tinh thần phong phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất... kiểu truyện trong truyện ngắn của Kim Lân Đặc biệt hơn, tác giả rất sắc sảo khi phát hiện một trong những đặc sắc của văn xuôi Kim Lân là ngôn ngữ “Ngôn ngữ nhân vật có vai trò quyết định trong việc thể hiện những tâm lí cổ truyền của người nông dân” [2, Năm 1994 trong bài Nghĩ về nghề văn , Kim Lân bộc bạch Khi sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng Trong truyện ngắn. .. Lại Nguyên Ân chia truyện ngắn Kim Lân thành ba loại truyện ngắn tính cách, truyện ngắn tình huống và truyện ngắn ngụ ý Cũng trong bài viết này, nhà nghiên cứu còn đưa ra nhận xét về ngôn ngữ và chất giọng trong văn xuôi Kim Lân 10 Chất giọng thường xuyên trong truyện ngắn của Kim Lân là chất giọng thực sự văn xuôi Nó không thích hướng vào chất trữ tình, không thích nống lên thống thiết Nó thích . trong truyện ngắn của Kim Lân. Chương 3. Cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân. 17 Chương 1 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRUYỆN NGẮN. DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Quốc Thanh CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN KIM - Xem thêm -Xem thêm Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, , Lý do chọn đề tài, Hướng tiếp cận về nội dung, Hướng tiếp cận về nghệ thuật, Phương pháp nghiên cứu, Các vấn đề về phương thức trần thuật trong loại hình tự sự, Phương thức trần thuật khách quan trong truyện ngắn của Kim Lân, Cấu trúc trần thuật trong tác phẩm tự sự Các dạng cấu trúc trần thuật trong truyện ngắn của Kim Lân, Những đóng góp của luận văn Lại Ngun Ân 1986, “Văn xi Kim Lân”, Tạp chí Văn học số 6, Viện Lại Ngun Ân 1999, 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Bakhtin M. 1992, Lí luận và thi pháp tiểu thuyết bản dịch của Phạm Vĩnh Bakhtin M. 1998 Những vấn, Nguyễn Văn Dân 1998, Lí luận văn học so sánh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nguyễn Văn Dân 1999, Nghiên cứu văn học lý luận và ứng dụng, Nxb Đặng Anh Đào 2001, Tài năng và người thưởng thức, Nxb Văn nghệ Lê Tiến Dũng 2003, Giáo trình lý luận văn học phần tác ph, Nguyên Hồng 1978, Những nhân vật ấy đã sống với tôi, Nxb Tác phẩm Nguyễn Khải 2003, Nghề văn cũng lắm công phu, Nxb Trẻ, Kim Lân 1996 Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học, Hà Nội., Nguyễn Đăng Mạnh 1983, Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Văn Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên 1986, Các nhà văn nói về văn tập 2, Nxb Nguyễn Đăng Mạnh 1993, Các tác giả văn học Việt Nam tập 2, Nxb Nguyễn Đăng Mạnh 1995, Tổng tập văn học Việt Nam tập 30A, N

phương thức trần thuật